Thứ Hai, 14 tháng 6, 2021

THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM MINH CHỨNG RÕ NÉT VỀ VIỆC

BẢO ĐẢM PHÁT HUY DÂN CHỦ TRONG CHẾ ĐỘ DUY NHẤT

MỘT ĐẢNG CẦM QUYỀN

Hoa Súng

Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, tư tưởng của Người là nền tảng, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng hơn 90 năm qua. Người đã sớm nhận thức bản chất, vai trò của dân chủ. Theo Người: “Nước ta là nước dân chủ./ Bao nhiêu lợi ích đều vì dân./ Bao nhiêu quyền hạn đều của dân/... Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Vì thế, Người khẳng định: “Thực hành dân chủ là cái chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn”. Vận dụng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và phát huy dân chủ, qua mỗi giai đoạn cách mạng Việt Nam, nhận thức của Đảng ta về dân chủ và phát huy dân chủ XHCN ngày càng được hoàn thiện. Thành tựu đó được thể hiện cụ thể trong các giai đoạn sau:

Thứ nhất, dân chủ ở Việt Nam trong giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.

Ngay từ khi mới thành lập, Đảng ta xác định nhiệm vụ cách mạng Việt Nam là: Thực hiện cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, sau đó tiến lên CNXH. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã làm nên Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập ra Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Lần đầu tiên trong lịch sử dựng nước, nhân dân có quyền là chủ và làm chủ đất nước, chính quyền các cấp do nhân dân lập ra, phục vụ cho lợi ích số đông nhân dân lao động và do chính đảng của giai cấp công nhân - Đảng Cộng sản Việt Nam - lãnh đạo. 

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đầu năm 1946 nhân dân ta đã thực hiện Tổng tuyển cử bầu ra Quốc hội, đến cuối năm đó ban hành Hiến pháp của nước Việt Nam. Ngay Điều 1 của Hiến pháp năm 1946 đã quy định: “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Đây chính là sự nhận thức mang tính cách mạng của Đảng và Nhà nước ta về việc xác định địa vị chính trị - pháp lý của nhân dân trong xã hội: Quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.

Sau đó, Đảng ta tiếp tục lãnh đạo đất nước thực hiện thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, thống nhất Tổ quốc, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đưa cả nước quá độ lên CNXH.

Thứ hai, dân chủ ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng CNXH trên phạm vi cả nước những năm trước đổi mới.

Sau khi thống nhất đất nước về mặt nhà nước (năm 1976), Đảng ta xác định: “Nhà nước thật sự của dân, do dân, vì dân”, từ đó, Hiến pháp năm 1980 đã hiến định: Tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, Nhà nước và pháp luật xã hội chủ nghĩa là bảo đảm để nhân dân làm chủ tập thể và bảo vệ quyền làm chủ hợp pháp của nhân dân. Ở giai đoạn này, Đảng ta chủ trương kết hợp phát huy dân chủ với không ngừng tăng cường chuyên chính vô sản; thực hiện và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, với phương thức: “làm chủ bằng nhà nước; làm chủ bằng các đoàn thể quần chúng”, nhằm bảo đảm nền độc lập dân tộc gắn liền với CNXH.

Thứ ba, dân chủ và thực hành dân chủ ở Việt Nam từ khi đổi mới đến nay.

Đại hội VI của Đảng (12-1986) khởi xướng đường lối đổi mới toàn diện đất nước. Đảng ta coi: làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa cần được thể hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống” và xác định cơ chế “Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý” trong quản lý toàn xã hội. Theo đó, trong công tác quản lý nhà nước, dù là quản lý hành chính hay quản lý sản xuất, kinh doanh, quản lý trật tự trị an ninh, đều cần có sự tham gia của quần chúng nhân dân. Văn kiện Đại hội VII của Đảng không dùng khái niệm “chế độ làm chủ tập thể” mà sử dụng khái niệm “chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa”, điều này thể hiện bước phát triển mới trong nhận thức của Đảng ta về dân chủ. Đảng khẳng định, toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị nước ta trong thời kỳ quá độ lên CNXH là nhằm: “xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân”. Một trong những thành tựu của công cuộc đổi mới được Đảng ta xác định là bước đầu thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa trên các lĩnh vực của đời sống xã hội”. Kỳ họp thứ 10 của Quốc hội khóa X đã ban hành Nghị quyết số 51/2001/QH10, “Về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992”, và khẳng định: “Nhà nước bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện” (Điều 3). Cơ chế bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân đã được Hiến pháp năm 1992 ghi nhận rõ ràng: “Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân” (Điều 6).

Nền dân chủ XHCN ngày một mở rộng và đi vào thực chất, Đại hội VIII của Đảng xác định: Xây dựng cơ chế cụ thể để thực hiện phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra đối với các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước. Cụ thể là, thực hiện tốt cơ chế làm chủ của nhân dân, làm chủ thông qua thiết chế đại diện là các cơ quan dân cử; làm chủ trực tiếp bằng các đoàn thể nhân dân và các hình thức tự quản; bằng các quy ước, hương ước tại cơ sở phù hợp với luật pháp của Nhà nước. Theo đó, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 30/CT-TW, ngày 18-2-1998, “Về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở”; sau đó, Nhà nước đã cụ thể hóa, thể chế hóa.

Đại hội IX của Đảng (năm 2001) tổng kết, đánh giá 15 năm thực hiện công cuộc đổi mới, với những thành tựu vượt bậc về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, trong đó dân chủ hóa xã hội đã thu được những thành tựu quan trọng. Đảng ta nhấn mạnh: “Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.

Đại hội X của Đảng (tháng 4-2006) đánh dấu bước phát triển mới của đất nước sau 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, nhận thức của Đảng ta về dân chủ XHCN và thực hành dân chủ XHCN đã phát triển vượt bậc về chất, đó là: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới,....Mọi đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đều phải phản ánh lợi ích của đại đa số nhân dân”(22). Năm 2007, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để nhân dân thực hành quyền làm chủ của mình trong đời sống hàng ngày.

Tại Đại hội XI của Đảng (tháng 1-2011), tổng kết 25 năm tiến hành đổi mới đất nước và 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta khẳng định: “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”. Trên tinh thần đó, tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII đã ban hành Hiến pháp năm 2013 nhằm cụ thể hóa đường lối, chiến lược phát triển đất nước trong điều kiện mới. Quá trình soạn thảo, lấy ý kiến rộng rãi của toàn thể nhân dân về dự thảo Hiến pháp 2013 đã thể hiện đây thực sự là đợt sinh hoạt chính trị rộng lớn. Trong đợt lấy ý kiến cả nước về sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã tổ chức được 28.000 cuộc hội thảo, hội nghị, tọa đàm và thu được 26 triệu lượt ý kiến góp ý về nội dung Hiến pháp. So với các bản Hiến pháp trước đó, Hiến pháp mới đã thể hiện tư duy chính trị - pháp lý mới, lần đầu tiên việc kiểm soát quyền lực nhà nước được hiến định: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” (Điều 2). Đây là một bước tiến lớn trong quá trình phát huy dân chủ XHCN ở Việt Nam. Tại Đại hội XII của Đảng (tháng 1-2016), tổng kết 30 năm đổi mới toàn diện đất nước, Đảng ta chỉ rõ: “Tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phải xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, được nhân dân tham gia ý kiến”.

Về định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030, Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Thực hành và phát huy rộng rãi dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ và vai trò chủ thể của nhân dân; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; củng cố, nâng cao niềm tin của nhân dân, tăng cường đồng thuận xã hội; tiếp tục đổi mới tổ chức, nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội”. Trải qua 35 năm đổi mới, việc xây dựng và phát huy nền dân chủ XHCN có những bước tiến quan trọng, thể hiện toàn diện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong đó, Nhà nước tiếp tục tập trung hoàn thiện các quy định pháp luật về quyền làm chủ của nhân dân, như Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, Luật Trưng cầu ý dân, Luật Tiếp cận thông tin,... Thông qua đó, quyền làm chủ của nhân dân tiếp tục được bảo đảm và phát huy trong thực tế, đó là: Nhân dân làm chủ trực tiếp thông qua quyền bầu cử, quyền ứng cử; thực hiện quyền giám sát và phản biện xã hội thông qua Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức xã hội khác; thực hiện quyền đối thoại dân chủ trực tiếp giữa nhân dân với chính quyền (theo quy định của pháp luật tiếp công dân); góp ý trực tiếp đối với các dự luật. Cùng với đó, Hiến pháp năm 2013, Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Doanh nghiệp năm 2020, Luật Đầu tư năm 2020, được ban hành đã tạo ra bước tiến mới trong bảo đảm quyền sở hữu tài sản, quyền tự do kinh doanh, sản xuất, mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành, nghề mà pháp luật không cấm. Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, trình độ dân trí, ý thức, trình độ và năng lực làm chủ của nhân dân từng bước được nâng lên dưới sự lãnh đạo của Đảng trong việc tổ chức và thực hiện nền dân chủ XHCN. Những kết quả đó đã nâng cao toàn diện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

Sự phát triển vượt bậc về kinh tế - xã hội là minh chứng rõ nét cho những thành tựu phát huy dân chủ thực chất ở Việt Nam: Quy mô GDP tiếp tục được mở rộng, GDP bình quân đầu người năm 2020 đạt 3.521 USD; Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều của cả nước đã giảm từ 9,88% cuối năm 2015 xuống dưới 3% vào năm 2020, bình quân giai đoạn 2016 - 2020 giảm trên 1,4%/năm.

Thực tế này và sự ghi nhận của quốc tế đã cho thấy, ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước luôn chăm lo phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện tốt chính sách phúc lợi xã hội và an sinh xã hội, thúc đẩy nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Điều này còn được minh chứng rõ hơn trong thời gian bùng phát đại dịch COVID-19, nhiều nước phát triển châu Âu, châu Mỹ có điều kiện kinh tế cao hơn so với Việt Nam, nhưng số ca lây nhiễm và tử vong ở các quốc gia này cao hơn Việt Nam nhiều lần. Có thể hệ thống y tế công cộng của các quốc gia này khác với Việt Nam, nhưng sự vào cuộc quyết liệt và quyết tâm của cả hệ thống chính trị cùng sự hưởng ứng tích cực, có trách nhiệm của nhân dân trong đại dịch khiến chúng ta hoàn toàn có quyền tự hào khẳng định rằng: “Việc chúng ta ngăn chặn và kiểm soát được đại dịch là một minh chứng hùng hồn khẳng định bản chất tốt đẹp của chế độ ta, của hệ thống chính trị ở nước ta”. Điều này càng chứng minh rõ ràng rằng, dù thể chế chính trị dưới hình thức nào, nhưng khi đảng cầm quyền bảo vệ, phục vụ nhân dân ngày càng tốt hơn, vì nhân dân mà cống hiến, thì cũng có nghĩa là trong chế độ này, dân chủ vẫn đang được bảo đảm và ngày càng phát huy sâu rộng, tính chính đáng của đảng cầm quyền được khẳng định.

Như vậy, có thể thấy, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nền dân chủ XHCN của chế độ ta không ngừng được củng cố và mở rộng cả về bề rộng lẫn chiều sâu. Thành tựu về xây dựng và phát huy dân chủ XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng ta thời gian qua là một trong những tiền đề quan trọng, góp phần xây dựng nền tảng chính trị vững chắc cho thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam, tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy việc hiện thực hóa mục tiêu xây dựng xã hội: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Hơn nữa, những thành tựu trên một lần nữa khẳng định rằng: Trong chế độ Đảng Cộng sản duy nhất cầm quyền ở Việt Nam, dân chủ không những không bị hạn chế, mà còn được bảo đảm, được phát huy ngày càng rộng rãi, thực chất trên thực tế và phát triển lên đỉnh cao của nó, khẳng định rõ bản chất của nền dân chủ XHCN./.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét