THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM MINH CHỨNG RÕ NÉT VỀ VIỆC
BẢO ĐẢM PHÁT HUY DÂN CHỦ TRONG CHẾ ĐỘ DUY NHẤT
MỘT ĐẢNG CẦM QUYỀN
Hoa Súng
Đảng
Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, tư tưởng của
Người là nền tảng, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình lãnh đạo cách mạng của
Đảng hơn 90 năm qua. Người đã sớm nhận thức bản chất, vai trò của dân chủ. Theo
Người: “Nước ta là nước dân chủ./ Bao nhiêu lợi ích đều vì dân./ Bao
nhiêu quyền hạn đều của dân/... Nói tóm
lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Vì thế, Người khẳng
định: “Thực hành dân chủ là cái chìa khóa vạn năng có thể giải
quyết mọi khó khăn”. Vận dụng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về
dân chủ và phát huy dân chủ, qua mỗi giai đoạn cách mạng Việt Nam, nhận thức
của Đảng ta về dân chủ và phát huy dân chủ XHCN ngày càng được hoàn thiện.
Thành tựu đó được thể hiện cụ thể trong các giai đoạn sau:
Thứ
nhất, dân chủ ở Việt Nam trong giai
đoạn cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.
Ngay
từ khi mới thành lập, Đảng ta xác định nhiệm vụ cách mạng Việt Nam là: Thực
hiện cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, sau đó tiến lên CNXH. Dưới sự lãnh đạo
của Đảng, nhân dân ta đã làm nên Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập ra Nhà nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Lần đầu tiên trong lịch sử dựng nước, nhân dân có
quyền là chủ và làm chủ đất nước, chính quyền các cấp do nhân dân lập ra, phục
vụ cho lợi ích số đông nhân dân lao động và do chính đảng của giai cấp công
nhân - Đảng Cộng sản Việt Nam - lãnh đạo.
Dưới
sự lãnh đạo của Đảng, đầu năm 1946 nhân dân ta đã thực hiện Tổng tuyển cử bầu
ra Quốc hội, đến cuối năm đó ban hành Hiến pháp của nước Việt Nam. Ngay Điều 1
của Hiến pháp năm 1946 đã quy định: “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn
thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai
cấp, tôn giáo”. Đây chính là sự nhận thức mang tính cách mạng của Đảng và Nhà
nước ta về việc xác định địa vị chính trị - pháp lý của nhân dân trong xã hội:
Quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.
Sau
đó, Đảng ta tiếp tục lãnh đạo đất nước thực hiện thắng lợi cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, thống nhất Tổ quốc, hoàn thành cách mạng dân
tộc dân chủ nhân dân, đưa cả nước quá độ lên CNXH.
Thứ
hai, dân chủ ở Việt Nam trong giai
đoạn xây dựng CNXH trên phạm vi cả nước những năm trước đổi mới.
Sau
khi thống nhất đất nước về mặt nhà nước (năm 1976), Đảng ta xác định: “Nhà nước
thật sự của dân, do dân, vì dân”, từ đó, Hiến pháp năm 1980 đã hiến định: Tất
cả quyền lực thuộc về nhân dân, Nhà nước và pháp luật xã hội chủ nghĩa là bảo
đảm để nhân dân làm chủ tập thể và bảo vệ quyền làm chủ hợp pháp của nhân dân.
Ở giai đoạn này, Đảng ta chủ trương kết hợp phát huy dân chủ với không ngừng tăng
cường chuyên chính vô sản; thực hiện và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân
dân lao động, với phương thức: “làm chủ bằng nhà nước; làm chủ bằng các
đoàn thể quần chúng”, nhằm bảo đảm nền độc lập dân tộc gắn liền với
CNXH.
Thứ
ba, dân chủ và thực hành dân chủ ở
Việt Nam từ khi đổi mới đến nay.
Đại
hội VI của Đảng (12-1986) khởi xướng đường lối đổi mới toàn diện đất nước. Đảng
ta coi: “làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa là bản chất
của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa cần được thể hiện trong mọi lĩnh vực của
đời sống” và xác định cơ chế “Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước
quản lý” trong quản lý toàn xã hội. Theo đó, trong công tác quản lý
nhà nước, dù là quản lý hành chính hay quản lý sản xuất, kinh doanh, quản lý
trật tự trị an ninh, đều cần có sự tham gia của quần chúng nhân dân. Văn kiện
Đại hội VII của Đảng không dùng khái niệm “chế độ làm chủ tập thể” mà sử dụng
khái niệm “chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa”, điều này thể hiện bước phát triển
mới trong nhận thức của Đảng ta về dân chủ. Đảng khẳng định, toàn bộ tổ chức và
hoạt động của hệ thống chính trị nước ta trong thời kỳ quá độ lên CNXH là nhằm:
“xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo
đảm quyền lực thuộc về nhân dân”. Một trong những thành tựu của công cuộc đổi
mới được Đảng ta xác định là “bước đầu thực hiện dân chủ xã hội
chủ nghĩa trên các lĩnh vực của đời sống xã hội”. Kỳ họp thứ 10 của
Quốc hội khóa X đã ban hành Nghị quyết số 51/2001/QH10, “Về việc sửa đổi, bổ
sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992”,
và khẳng định: “Nhà nước bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi
mặt của nhân dân, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện
phát triển toàn diện” (Điều 3). Cơ chế bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân đã
được Hiến pháp năm 1992 ghi nhận rõ ràng: “Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước
thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và
nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân
dân” (Điều 6).
Nền
dân chủ XHCN ngày một mở rộng và đi vào thực chất, Đại hội VIII của Đảng xác
định: Xây dựng cơ chế cụ thể để thực hiện phương châm dân biết, dân bàn,
dân làm, dân kiểm tra đối với các chủ trương, chính sách lớn của Đảng
và Nhà nước. Cụ thể là, thực hiện tốt cơ chế làm chủ của nhân dân, làm chủ
thông qua thiết chế đại diện là các cơ quan dân cử; làm chủ trực tiếp bằng các
đoàn thể nhân dân và các hình thức tự quản; bằng các quy ước, hương ước tại cơ
sở phù hợp với luật pháp của Nhà nước. Theo đó, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ
thị số 30/CT-TW, ngày 18-2-1998, “Về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở
cơ sở”; sau đó, Nhà nước đã cụ thể hóa, thể chế hóa.
Đại
hội IX của Đảng (năm 2001) tổng kết, đánh giá 15 năm thực hiện công cuộc đổi
mới, với những thành tựu vượt bậc về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, trong
đó dân chủ hóa xã hội đã thu được những thành tựu quan trọng. Đảng ta nhấn
mạnh: “Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân,
là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân. Quyền lực nhà nước là thống
nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực
hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.
Đại
hội X của Đảng (tháng 4-2006) đánh dấu bước phát triển mới của đất nước sau 20
năm thực hiện công cuộc đổi mới, nhận thức của Đảng ta về dân chủ XHCN và thực
hành dân chủ XHCN đã phát triển vượt bậc về chất, đó là: “Dân chủ xã hội chủ
nghĩa vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới,....Mọi
đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đều phải phản ánh lợi
ích của đại đa số nhân dân”(22). Năm 2007, Ủy ban Thường vụ Quốc hội
đã ban hành Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Đây
là cơ sở pháp lý quan trọng để nhân dân thực hành quyền làm chủ của mình trong
đời sống hàng ngày.
Tại
Đại hội XI của Đảng (tháng 1-2011), tổng kết 25 năm tiến hành đổi mới đất nước
và 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta khẳng định: “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện
nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân
dân”. Trên tinh thần đó, tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII đã
ban hành Hiến pháp năm 2013 nhằm cụ thể hóa đường lối, chiến lược phát triển
đất nước trong điều kiện mới. Quá trình soạn thảo, lấy ý kiến rộng rãi của toàn
thể nhân dân về dự thảo Hiến pháp 2013 đã thể hiện đây thực sự là đợt sinh hoạt
chính trị rộng lớn. Trong đợt lấy ý kiến cả nước về sửa đổi Hiến pháp năm 1992
đã tổ chức được 28.000 cuộc hội thảo, hội nghị, tọa đàm và thu được 26 triệu
lượt ý kiến góp ý về nội dung Hiến pháp. So với các bản Hiến pháp trước đó,
Hiến pháp mới đã thể hiện tư duy chính trị - pháp lý mới, lần đầu tiên việc
kiểm soát quyền lực nhà nước được hiến định: “Quyền lực nhà nước là thống nhất,
có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực
hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” (Điều 2). Đây là một bước tiến lớn
trong quá trình phát huy dân chủ XHCN ở Việt Nam. Tại Đại hội XII của Đảng
(tháng 1-2016), tổng kết 30 năm đổi mới toàn diện đất nước, Đảng ta chỉ rõ:
“Tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước
thuộc về nhân dân. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật
của Nhà nước phải xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của
nhân dân, được nhân dân tham gia ý kiến”.
Về định
hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030, Đại hội XIII của Đảng khẳng
định: “Thực hành và phát huy rộng rãi dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ
và vai trò chủ thể của nhân dân; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc;
củng cố, nâng cao niềm tin của nhân dân, tăng cường đồng thuận xã hội; tiếp tục
đổi mới tổ chức, nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ
chức chính trị - xã hội”. Trải qua 35 năm đổi mới, việc
xây dựng và phát huy nền dân chủ XHCN có những bước tiến quan trọng, thể hiện
toàn diện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong đó, Nhà nước tiếp tục
tập trung hoàn thiện các quy định pháp luật về quyền làm chủ của nhân dân, như
Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị
trấn, Luật Trưng cầu ý dân, Luật Tiếp cận thông tin,... Thông qua đó, quyền làm
chủ của nhân dân tiếp tục được bảo đảm và phát huy trong thực tế, đó là: Nhân
dân làm chủ trực tiếp thông qua quyền bầu cử, quyền ứng cử; thực hiện quyền
giám sát và phản biện xã hội thông qua Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị
- xã hội và các tổ chức xã hội khác; thực hiện quyền đối thoại dân chủ trực
tiếp giữa nhân dân với chính quyền (theo quy định của pháp luật tiếp công dân);
góp ý trực tiếp đối với các dự luật. Cùng với đó, Hiến pháp năm 2013, Bộ luật
Dân sự năm 2015, Luật Doanh nghiệp năm 2020, Luật Đầu tư năm 2020, được ban
hành đã tạo ra bước tiến mới trong bảo đảm quyền sở hữu tài sản, quyền tự do
kinh doanh, sản xuất, mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành,
nghề mà pháp luật không cấm. Cùng với sự phát triển kinh tế
- xã hội, trình độ dân trí, ý thức, trình độ và năng lực làm chủ của nhân dân
từng bước được nâng lên dưới sự lãnh đạo của Đảng trong việc tổ chức và thực
hiện nền dân chủ XHCN. Những kết quả đó đã nâng cao toàn diện đời sống vật chất
và tinh thần của nhân dân.
Sự phát triển vượt bậc về kinh tế - xã hội là minh chứng rõ nét
cho những thành tựu phát huy dân chủ thực chất ở Việt Nam: Quy mô GDP tiếp tục
được mở rộng, GDP bình quân đầu người năm 2020 đạt 3.521 USD; Tỷ lệ hộ nghèo
theo chuẩn nghèo đa chiều của cả nước đã giảm từ 9,88% cuối năm 2015 xuống dưới
3% vào năm 2020, bình quân giai đoạn 2016 - 2020 giảm trên 1,4%/năm.
Thực tế này và sự ghi nhận của quốc tế đã cho thấy, ở Việt Nam,
Đảng và Nhà nước luôn chăm lo phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện tốt chính
sách phúc lợi xã hội và an sinh xã hội, thúc đẩy nâng cao đời sống vật chất và
tinh thần của nhân dân. Điều này còn được minh chứng rõ hơn trong thời gian
bùng phát đại dịch COVID-19, nhiều nước phát triển châu Âu, châu Mỹ có điều
kiện kinh tế cao hơn so với Việt Nam, nhưng số ca lây nhiễm và tử vong ở các
quốc gia này cao hơn Việt Nam nhiều lần. Có thể hệ thống y tế công cộng của các
quốc gia này khác với Việt Nam, nhưng sự vào cuộc quyết liệt và quyết tâm của
cả hệ thống chính trị cùng sự hưởng ứng tích cực, có trách nhiệm của nhân dân
trong đại dịch khiến chúng ta hoàn toàn có quyền tự hào khẳng định rằng: “Việc
chúng ta ngăn chặn và kiểm soát được đại dịch là một minh chứng hùng hồn khẳng
định bản chất tốt đẹp của chế độ ta, của hệ thống chính trị ở nước ta”. Điều
này càng chứng minh rõ ràng rằng, dù thể chế chính trị dưới hình thức nào,
nhưng khi đảng cầm quyền bảo vệ, phục vụ nhân dân ngày càng tốt hơn, vì nhân
dân mà cống hiến, thì cũng có nghĩa là trong chế độ này, dân chủ vẫn đang được
bảo đảm và ngày càng phát huy sâu rộng, tính chính đáng của đảng cầm quyền được
khẳng định.
Như
vậy, có thể thấy, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nền dân chủ XHCN của chế độ ta
không ngừng được củng cố và mở rộng cả về bề rộng lẫn chiều sâu. Thành tựu về
xây dựng và phát huy dân chủ XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng ta thời gian qua là
một trong những tiền đề quan trọng, góp phần xây dựng nền tảng chính trị vững
chắc cho thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam, tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy việc
hiện thực hóa mục tiêu xây dựng xã hội: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ,
công bằng, văn minh”. Hơn nữa, những thành tựu trên một lần nữa khẳng định
rằng: Trong chế độ Đảng Cộng sản duy nhất cầm quyền ở Việt Nam, dân chủ
không những không bị hạn chế, mà còn được bảo đảm, được phát huy ngày càng rộng
rãi, thực chất trên thực tế và phát triển lên đỉnh cao của nó, khẳng định rõ
bản chất của nền dân chủ XHCN./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét