DÂN CHỦ HAY KHÔNG DÂN CHỦ
PHỤ THUỘC VÀO ĐẢNG CẦM QUYỀN
BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH CỦA AI
Hoa Súng
Đối tượng phục vụ của đảng cầm
quyền là đa số nhân dân lao động hay một bộ phận nhỏ người chiếm hữu phần lớn
số tài sản trong xã hội? Trả lời cho câu hỏi này sẽ nói lên bản chất của chế độ
chính trị mà đảng đó đang hoạt động.
Chế độ chính trị của Trung Quốc theo mô hình nhất nguyên, đa đảng
do Đảng Cộng sản Trung Quốc duy nhất cầm quyền, hoặc chế độ chính trị của Lào,
Cu-ba và Việt Nam theo mô hình nhất nguyên, một đảng cộng sản duy nhất cầm
quyền. Mặc dù, kinh tế, xã hội ở các quốc gia này chưa đạt trình độ phát triển
cao như một số nước phát triển ở châu Âu, Mỹ, nhưng chế độ dân chủ ở những nước
do đảng cộng sản duy nhất cầm quyền được đề cao, được bảo đảm và ngày càng được
thực hành rộng rãi hơn, thực chất hơn; đời sống chính trị - xã hội ổn định.
Thành công không thể phủ nhận
của cách mạng Việt Nam hơn 90 năm qua do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo là
giành, giữ vững độc lập dân tộc, từng bước xây dựng và phát huy nền dân chủ
XHCN. Chính vì thế, năm 2010, khi trả lời phỏng vấn báo chí Ấn Độ nhân chuyến
thăm quốc gia này, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng (nay là Tổng Bí thư Ban
Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam) đã khẳng định: “Không phải có
nhiều đảng thì dân chủ hơn, ít đảng thì ít dân chủ hơn, mỗi nước có hoàn cảnh,
điều kiện lịch sử cụ thể khác nhau, điều quan trọng là xã hội có phát triển
không, nhân dân có được hưởng cuộc sống ấm no, hạnh phúc không và đất nước có
ổn định để ngày càng phát triển đi lên không? Đó là tiêu chí quan trọng nhất”.
Địa vị cầm quyền của Đảng Cộng
sản Việt Nam không phải là ý chí chủ quan của một cá nhân hay của một lực lượng
chính trị nào, mà đó là kết quả quá trình “sàng lọc” khắc nghiệt của lịch sử,
sự lựa chọn của dân tộc Việt Nam. Sự thực, chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam mới là
lực lượng chính trị có đủ khả năng dẫn dắt nhân dân giành được độc lập cho dân
tộc, mang lại tự do, hạnh phúc cho con người. Trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam
ra đời, hàng trăm cuộc khởi nghĩa, phong trào chống Pháp đã nổ ra theo nhiều
khuynh hướng chính trị khác nhau, nhưng cuối cùng đều thất bại. Nhiều đảng phái
thuộc mọi khuynh hướng chính trị đã ra đời, như Đảng Lập hiến (năm 1923), Việt
Nam nghĩa đoàn, Đảng Thanh niên, An Nam độc lập đảng (năm 1927), Việt Nam Quốc
dân đảng (năm 1927), Đại Việt quốc gia xã hội đảng, Đại Việt quốc dân đảng,
Việt Nam Quốc dân đảng (Việt Quốc), Việt Nam Cách mạng đồng minh hội (Việt
Cách), nhưng các tổ chức này đã không hoàn thành được sứ mệnh giành độc lập cho
dân tộc, thậm chí nhiều đảng phái ngày càng thoái hóa, biến chất, đi ngược lại
lợi ích dân tộc, làm tay sai cho ngoại bang. Trong quá trình đấu tranh cách
mạng, Đảng Cộng sản chủ trương vận động thành lập Đảng dân chủ Việt Nam (năm
1944) và Đảng Xã hội Việt Nam (năm 1946) để đoàn kết, tập hợp tư sản dân tộc,
tiểu tử sản, trí thức cùng góp sức vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, kiến thiết
lại đất nước sau khi đã giành được độc lập. Ngay từ khi ra đời cũng như trong
suốt quá trình tồn tại và hoạt động, Đảng Dân chủ và Đảng Xã hội luôn thừa nhận
vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; là thành viên tích cực của mặt
trận dân tộc thống nhất; đồng hành cùng dân tộc thực hiện đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam. Năm 1988, hai đảng này tuyên bố
tự giải tán sau khi hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình. Có thể khẳng định, đối
với Việt Nam, không có lực lượng chính trị nào ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có
đủ năng lực trí tuệ, bản lĩnh, đạo đức, uy tín để lãnh đạo nhân dân thực hiện
mục tiêu độc lập dân tộc và xây dựng đất nước hùng cường, nhân dân có cuộc sống
ấm no, tự do, hạnh phúc. Vai trò lãnh đạo của Đảng được kiểm nghiệm bởi quá
trình lịch sử lâu dài, đầy khó khăn, thách thức và sàng lọc nghiệt ngã, mà ở
bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào, những người đảng viên cộng sản luôn thể hiện
tính tiền phong, gương mẫu, sẵn sàng gánh vác mọi gian khổ, kể cả chấp nhận hy
sinh xương máu để thực hiện thành công sứ mệnh thiêng liêng, trách nhiệm cao
cả, hết lòng vì nước, vì dân.
Trong khi đó, ở các quốc gia
châu Âu, châu Mỹ, điển hình là nước Mỹ, mặc dù là quốc gia đa đảng, nhưng thực
sự chỉ có hai đảng luân phiên cầm quyền: Đảng Cộng hòa và Đảng Dân chủ. Đây là
hai đảng của giai cấp tư sản. Thêm vào đó, cái gọi là “nền dân chủ Mỹ” chỉ là
nền dân chủ của giới nhà giàu hay nền dân chủ “đấu giá”, giả hiệu, vì theo
tờ Thời báo tài chính (Anh) ngày 25-11-2000: “Cuộc bầu cử năm
2000 đã cho thấy rõ nền dân chủ Mỹ có thể bán cho những người trả giá cao
nhất”; tờ Thế giới (Tây Ban Nha) cùng ngày đã ví thói mê tiền
như là “căn bệnh ung thư của nền dân chủ Mỹ”. Một chính quyền được tạo lập bởi
đồng tiền thì tất yếu phải hướng đến phục vụ những kẻ nhiều tiền, chứ không thể
là một “chính quyền của tất cả mọi người”, như các học giả phương Tây vẫn rêu
rao. Sự dối trá của nền dân chủ tư sản đã bị chính cử tri ở các nước đó
bóc trần bằng hành động tẩy chay các cuộc bầu cử, với mức độ ngày càng gia
tăng. Các cuộc bầu cử tổng thống ở Mỹ những năm 1996 và 2000 chỉ có khoảng 50%
tổng số cử tri tham gia.
Trong xã hội hiện đại, tương
ứng với mỗi mô hình kinh tế, xã hội, tùy thuộc vào điều kiện và hoàn cảnh lịch
sử cụ thể, có thể là hệ thống chính trị một đảng hay hệ thống chính trị đa đảng
cạnh tranh. Tuy nhiên, trong hệ thống chính trị đa đảng, tại một thời điểm nhất
định cũng chỉ có một đảng thực chất cầm quyền, ngay cả trong trường hợp liên
minh một số đảng cùng cầm quyền để thành lập chính phủ, thì đảng nào chiếm
nhiều số ghế hơn trong nghị viện vẫn có quyền quyết định trong việc đưa ra các
chính sách của chính phủ (như ở Đức hiện nay).
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét