Phòng, chống “tự diễn biến’, “tự chuyển hóa”: Tỉnh táo nhận diện, đấu tranh chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa xét lại
Chống chủ nghĩa xét lại trong phong trào cộng
sản và công nhân quốc tế nói chung, trong cách mạng Việt Nam nói riêng kể từ
khi có Đảng, là cuộc đấu tranh không ngừng nghỉ. Nhất là trong tình hình hiện
nay, đấu tranh chống các biểu hiện của chủ nghĩa xét lại là góp phần bảo vệ
vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Từ dao động, hoài nghi đến xa rời, phản bội lý tưởng cách mạng
Gần đây, nếu quan tâm theo dõi tình hình, có thể thấy sự xuất hiện của
một vài ý kiến đòi xem xét lại nội dung cốt lõi nền tảng tư tưởng của Đảng. Có
người thì tỏ ra nhẹ nhàng “hiến kế”, “tâm thư”, “góp ý” rằng Chủ nghĩa
Mác-Lênin đã lỗi thời, nên thay bằng những thứ mà họ gọi là “chủ thuyết phát
triển mới”, rằng nội dung Văn kiện Đại hội XIII của Đảng không có gì mới, vẫn
là “bổn cũ soạn lại”, “sao chép theo lối mòn”, thiếu tầm tư duy chiến lược,
không biết tiếp thu những tinh hoa của nhân loại. Có người thì công khai phủ
định, phản bác Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vai trò lãnh đạo của
Đảng, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH). Họ đòi đa nguyên chính trị, đa
đảng đối lập, xây dựng chế độ xã hội theo mô hình phương Tây... Những quan điểm
mang tư tưởng xét lại, chống phá nói trên nếu không được phản bác, ngăn chặn sẽ
gây hoang mang trong nhân dân, làm suy giảm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng,
vào CNXH và con đường đi lên CNXH.
Thực tế thì không phải bây giờ mà ngay từ lúc Mác, Ăngghen và Lênin còn
sống, những thành phần đòi xét lại Chủ nghĩa Mác-Lênin đã xuất hiện. Những
người theo chủ nghĩa xét lại vẫn chấp nhận các lý tưởng cùng nền tảng lý luận
cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin nhưng phê bình những luận điểm của Mác, Lênin về
cương lĩnh, chiến lược và sách lược cách mạng... mà họ cho là không còn phù hợp
với hoàn cảnh thực tiễn trên thế giới và ở từng nước. Một số người đưa ra quan
điểm rằng, trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản (CNTB) bước sang thời kỳ phát triển
tương đối hòa bình, các hình thức đấu tranh nghị trường được sử dụng rộng rãi,
mâu thuẫn cơ bản của CNTB sẽ dịu đi và vì vậy, không cần đấu tranh xóa bỏ sự bóc
lột của tư bản chủ nghĩa, mà chỉ cần sự thâm nhập hòa bình của khuynh hướng
XHCN là thực hiện được mục tiêu xóa bỏ áp bức, bóc lột. Những người khác thì
lập luận rằng, những thứ như tự do chính trị, dân chủ, quyền công dân trong
CNTB sẽ loại bỏ tính tất yếu đấu tranh chính trị của giai cấp công nhân. Vì
thế, mục tiêu cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân là thiết lập dân chủ tư
sản, cải cách CNTB, điều hòa xung đột giữa giai cấp tư sản và giai cấp công
nhân.
Dù tên gọi, biến tướng có khác nhau nhưng tựu trung, chủ nghĩa xét lại
có hai khuynh hướng chính. Chủ nghĩa xét lại “tả khuynh” tìm cách đánh tráo
những nguyên lý của Chủ nghĩa Mác-Lênin bằng những quan điểm vô chính phủ, duy
ý chí có tính tiểu tư sản, phủ nhận tính tất yếu đấu tranh chính trị của giai cấp
công nhân, phủ nhận vai trò của đảng cộng sản và chuyên chính vô sản. Chủ nghĩa
xét lại “hữu khuynh” thì đòi bác bỏ Chủ nghĩa Mác-Lênin, muốn thay thế những
nguyên lý của Chủ nghĩa Mác-Lênin bằng những quan điểm, cải cách tư sản. Và dù
ngụy trang dưới bất kỳ hình thức nào, dù có những điều chỉnh nhất định, chủ
nghĩa xét lại cũng không thể che giấu được động cơ là xa rời mục tiêu cuối cùng
của giai cấp công nhân, từ bỏ cuộc đấu tranh giành thắng lợi cho CNXH.
Vì mang tính chất hai mặt của những giai tầng xã hội tiểu tư sản, tiểu
chủ trong điều kiện CNTB và trong điều kiện đấu tranh vì CNXH ngày càng gay gắt
nên chủ nghĩa xét lại thường xuất hiện khi có bước ngoặt. Vào thời điểm khó
khăn, phức tạp, thử thách hoặc khi những phát minh, sáng chế khoa học và tình
hình mới dẫn đến phá vỡ giới hạn nhận thức cũ, người nhiễm tư tưởng xét lại
thường không đủ khả năng nhận thức đúng những hiện tượng mới nảy sinh, những
thay đổi trong sách lược của các đảng cộng sản nên hay dao động, không vững
vàng. Thêm vào đó, trước sự tấn công điên cuồng của CNTB, họ tỏ ra yếu đuối,
hoang mang, dễ bị lợi dụng, từ đó mà nảy sinh tư tưởng xét lại, thậm chí chuyển
hóa thành phản bội.
Thực tế cho thấy, khi Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu sụp đổ, cách mạng
thế giới thoái trào, những người mang tư tưởng xét lại bắt đầu tỏ ra bi quan,
dao động, nghi ngờ tính đúng đắn, khoa học của CNXH. Có người quy kết nguyên
nhân đổ vỡ này là do sai lầm của Chủ nghĩa Mác-Lênin và sự lựa chọn con đường
xây dựng CNXH. Có người thì quay ra phụ họa với các luận điệu công kích, bài
bác CNXH, ca ngợi một chiều CNTB. Thậm chí có người còn sám hối về một thời đã
tin theo Chủ nghĩa Mác-Lênin và con đường XHCN, cho rằng cần phải đi con đường
khác. Các quan điểm “tân Mác-xít”, “hậu Mác-xít”... thi nhau trỗi dậy, gây xáo
trộn về tư tưởng.
Ở Việt Nam, trong quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài, phức tạp, ở
những bước ngoặt, chúng ta cũng thấy xuất hiện tư tưởng cơ hội, xét lại dưới
nhiều màu sắc “hữu khuynh”, “tả khuynh”. Dù chỉ tồn tại với tính cách là
quan điểm, tư tưởng chứ chưa định hình rõ như “chủ nghĩa”; biểu hiện ở lời nói,
trang viết và hành động nhỏ lẻ của một số người, một nhóm người nhưng tư tưởng
xét lại cũng gây nhiều khó khăn cho cách mạng. Trong thời kỳ kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước, khi cuộc chiến ở vào thời kỳ quyết liệt, đã có những người tỏ ra
dao động trước sức mạnh tàn bạo của kẻ thù, trước hy sinh, gian khổ nên không
kiên định với đường lối đấu tranh giải phóng miền Nam, ảo tưởng về con đường
chung sống hòa bình. Vào thời điểm Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, phong
trào cộng sản suy thoái, đất nước thì lâm vào khủng hoảng kinh tế-xã hội sâu
sắc, một số người bắt đầu dao động, ngả nghiêng, do dự, mơ hồ, hoài nghi vào
con đường đi lên CNXH. Thậm chí có người cho rằng lý luận về CNXH đã sụp đổ,
cần phải thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, xây dựng chế độ xã hội
theo mô hình phương Tây, phi chính trị hóa quân đội...
Thành tựu đổi mới khẳng định sự đúng đắn con đường đi của đất nước, dân
tộc
Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, trong đó có tư tưởng xét lại,
để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đã trở thành vấn đề cơ bản, hệ trọng, có ý
nghĩa sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng. Trước hết, phải thấy rằng
theo đà phát triển không ngừng của thực tiễn và khoa học, bất cứ học thuyết nào
tự bản thân nó cũng không phải là một hệ thống lý luận giáo điều, và chính Mác
cũng đã từng đưa ra câu cách ngôn “Mỗi bước tiến của phong trào thực tiễn còn
quan trọng hơn hàng tá cương lĩnh”. Học thuyết Mác-Lênin mặc dù rất khoa học và
đúng đắn cũng không thể giải đáp đầy đủ, chi tiết, cặn kẽ mọi vấn đề, ở mọi
thời đại, của mọi quốc gia. Nó chỉ là thế giới quan và phương pháp luận khoa
học, là vũ khí tư tưởng của con người trong cuộc đấu tranh vì chân lý khoa học
và chính nghĩa nhân văn để nhận thức và cải tạo thế giới mà không phải là “cái
đã xong xuôi” hay “nhất thành bất biến”.
Chính vì thế, học thuyết Mác-Lênin phải được bổ sung, phát triển không
ngừng cùng với tiến trình phát triển tri thức, khoa học, thực tiễn của nhân
loại. Tuy nhiên, dù bổ sung, phát triển ở bất cứ nội dung nào thì cũng phải đặt
trên cơ sở những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin, bởi xa rời những
nguyên lý này thì chắc chắn lý luận sẽ bị lệch lạc, bóp méo, mất định hướng và
dễ sa vào chủ nghĩa xét lại. Bổ sung, phát triển thì cũng phải vì mục đích bảo
vệ, chứ không phải là từ bỏ, là phản bội Chủ nghĩa Mác-Lênin. Với cách mạng
Việt Nam hiện nay, việc nghiên cứu, bổ sung, phát triển lý luận phải
nhằm mục tiêu góp phần xác lập một đường lối chính trị độc lập, tự chủ,
đúng đắn và sáng tạo để dẫn dắt, chỉ đạo thắng lợi công cuộc xây dựng CNXH và
bảo vệ Tổ quốc trên nền tảng Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, dưới
sự lãnh đạo của Đảng, chứ không phải là phủ nhận, đổi hướng.
Bên cạnh yêu cầu giữ vững nguyên tắc, đấu tranh với chủ nghĩa xét lại
còn đòi hỏi phải nắm vững và xử lý khéo léo mối quan hệ giữa kiên định và đổi
mới. Bởi nếu chỉ kiên định một cách máy móc thì dễ dẫn đến giáo điều, cứng
nhắc, bảo thủ. Nhưng nếu không kiên định mà đổi mới một cách vô nguyên tắc thì
cũng rất dễ rơi vào chủ nghĩa xét lại, chệch hướng, “đổi màu”. Thêm vào đó, đấu
tranh với chủ nghĩa xét lại lại diễn ra ngay trong nội bộ những người cộng sản
nên nó đòi hỏi sự kiên trì, khả năng thuyết phục, chứ không thể cực đoan, vội
vã phân chiến tuyến, áp đặt phải đứng về bên này hay bên kia. Đặt ra vấn đề này
bởi có lúc giáo điều, chủ quan, duy ý chí đã cản trở, gây tâm lý ngần ngại
trước những thay đổi, hoặc nhìn nhận, đánh giá chưa hết những sáng tạo phát
triển, đổi mới.
Đây là việc làm
không dễ dàng nhưng lịch sử cho thấy Đảng ta luôn biết vượt qua khó khăn, thử
thách trong những thời điểm mà thực tế đòi hỏi phải có những đổi mới, phát
triển mà không sa vào xét lại, chệch hướng bằng sự nhạy cảm chính trị và động
cơ trong sáng vì nước, vì dân. Đó là tấm gương đồng chí Kim Ngọc, người đã khởi
xướng, chủ trì ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TU ngày 10-9-1966 của Tỉnh ủy Vĩnh
Phúc “Về một số vấn đề quản lý lao động nông nghiệp trong hợp tác xã hiện nay”.
Nghị quyết này khi đó bị coi là vi phạm nghiêm trọng đường lối của Đảng về phát
triển nông nghiệp. Tuy nhiên, thực tế dần cho thấy tính đúng đắn của Nghị quyết
68 và tư duy của đồng chí Kim Ngọc. Sáng tạo đó đã được Đảng ta nghiên cứu,
tiếp thu để năm 1981, Ban Bí thư ra Chỉ thị 100-CT/TW về cải tiến công tác
khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong hợp tác
xã nông nghiệp (Khoán 100). Tiếp đó là năm 1988, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số
10-NQ/TW về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp (Khoán 10), tạo bước đột phá
cho nông nghiệp và nông thôn trong thời kỳ đổi mới.
Đó là câu chuyện với đồng chí Nguyễn Văn Linh, nguyên Tổng Bí thư của
Đảng. Từ thập niên 1980, khi còn là Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh, đồng chí đã
thử nghiệm xóa bỏ cơ chế tập trung, bao cấp, thí điểm đổi mới quản lý kinh tế ở
một số doanh nghiệp nhà nước. Đây là những bước đột phá đầu tiên nhằm xóa bỏ cơ
chế quản lý cũ nên bị nhiều người phê phán, cho rằng chạy theo cơ chế thị
trường nhưng đồng chí Nguyễn Văn Linh vẫn kiên trì từng bước với cách làm này.
Thực tế sau này chứng minh sự đúng đắn trong tư duy sáng tạo của đồng chí
Nguyễn Văn Linh, và đường lối đổi mới của Đảng hình thành và phát triển chính
là từ tổng kết thực tiễn sáng tạo của nhân dân, trong đó có cống hiến to lớn
của đồng chí Nguyễn Văn Linh.
Và cũng chính thực tế sinh động của sự nghiệp đổi mới là
bằng chứng thuyết phục nhất về sự vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa
Mác-Lênin của Đảng ta mà không sa vào tư tưởng xét lại, chệch hướng, “đổi màu”.
Sau 35 năm đổi mới, từ một nước chậm phát triển, đến cái ăn cũng không đủ, Việt
Nam đã trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trong ASEAN, một nước xuất khẩu gạo và
nhiều nông sản khác đứng hàng đầu thế giới. Giờ đây, Việt Nam là hình ảnh của
một đất nước đang vững bước đi lên với một tư thế mới, tư thế của người làm chủ
và biết làm chủ vận mệnh của mình; với một vị thế mới, vị thế của một đất nước
độc lập, tự chủ, hòa bình, ổn định đang trên đà phát triển; với một tầm ảnh
hưởng mới, ảnh hưởng của một đối tác đang chuyển mạnh từ “tham gia tích cực”
lên “chủ động đóng góp xây dựng, định hình các cấu trúc mới, luật chơi mới”,
một đối tác luôn có trách nhiệm trong các “sân chơi” khu vực và toàn cầu. Đúng
như lời khẳng định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Với tất cả sự khiêm tốn,
chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực,
vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. “Đổi mới” đã song hành với “Việt Nam”
đến khắp nơi trên thế giới, đã vang lên trên các diễn đàn quốc tế lớn như là
một hiện tượng đặc biệt, một kỳ tích trong thế giới hiện đại. Thành công của
đổi mới đã khẳng định sự đúng đắn con đường đi mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn
cho đất nước, dân tộc.
Công
Bằng
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét