HÀNH TRÌNH CỨU NƯỚC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Nhân
Trần
Đã hơn nửa thế
kỷ kể từ ngày Bác đi xa, nhưng trong lòng các thế hệ nhân dân Việt Nam, Người
vẫn còn sống mãi, mỗi chúng ta đều khắc sâu trong tâm khảm những hy sinh lớn
lao mà Bác đã trải qua trong suốt chặng đường 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước
với lòng biết ơn vô hạn đối với công ơn trời biển Bác đã dành cho đất nước ta,
dân tộc ta và nhân dân ta.
Cách đây 108
năm, ngày 5/6/1911, tại Bến cảng Nhà Rồng, thành phố Sài Gòn - Gia Định (nay là
thành phố Hồ Chí Minh) người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành khi đó mới
vừa tròn 21 tuổi tự giới thiệu là Văn Ba xin làm phụ bếp, đã rời Tổ quốc trên
con tàu Amiran Latusơ Tơrêvin, bắt đầu cuộc hành trình 30 năm ra đi tìm đường
cứu nước. Nguyễn Tất Thành rất ngưỡng mộ và kính trọng lòng yêu nước dũng
cảm, kiên cường của các bậc tiền bối và sớm nhận ra con đường do những người đi
trước mở ra sẽ không giải phóng được dân tộc mà cần thiết phải có con đường mới
phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử để giành lại độc lập, tự do cho dân
tộc; phải ra nước ngoài xem nước Pháp và các nước độc lập phát triển như thế
nào để trở về giúp đồng bào ta, đất nước ta thoát khỏi cảnh lầm than nô lệ dưới
ách áp bức, đô hộ của thực dân, phong kiến.
Tại Mác xây,
ngày 15/9/1911, Người viết thư gửi Bộ trưởng thuộc địa Pháp, ký tên Nguyễn Tất
Thành, xin vào học trường thuộc địa nhưng đã bị từ chối. Từ năm 1912, Nguyễn
Tất Thành đi qua một số nước châu Phi, châu Mỹ. Giữa năm 1913, Người đến nước
Anh, tham gia nhiều hoạt động ở đây cho đến giữa năm 1917 mới trở lại nước
Pháp.
Đầu năm 1919, Nguyễn
Tất Thành tham gia Đảng xã hội Pháp, tháng 6/1919 thay mặt những người Việt Nam
yêu nước gửi bản yêu sách gồm 8 điểm (ký tên Nguyễn Ái Quốc) tới hội nghị các
nước đế quốc họp ở Véc-xây, đòi chính phủ các nước họp hội nghị phải thừa nhận
quyền tự do, dân chủ và quyền bình đẳng của dân tộc Việt Nam. Tháng 7/1920,
Nguyễn Ái Quốc đọc được Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của
Lênin. Tại Đại hội Đảng xã hội Pháp tháng 12/1920, Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán
thành Quốc tế III và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp, trở thành người
Cộng sản đầu tiên của Việt Nam.
Từ năm 1921 đến
tháng 6/1923, Nguyễn Ái Quốc triển khai nhiều hoạt động, tham gia thành lập Hội
liên hiệp các dân tộc thuộc địa, dự Đại hội lần thứ I và lần thứ II của Đảng
Cộng sản Pháp, sinh hoạt trong câu lạc bộ công nhân, làm chủ nhiệm kiêm chủ bút
Báo Người cùng khổ.
Ngày 13/6/1923,
Người rời nước Pháp đến Đức và ngày 22/6/1923 đi đến Liên Xô. Từ tháng 7/1923
đến tháng 10/1924, Nguyễn Ái Quốc tích cực hoạt động trong phong trào cộng sản
quốc tế, bổ sung và phát triển lý luận về cách mạng thuộc địa. Người hoạt động
trong Quốc tế nông dân; học tập tại trường Đại học Phương Đông; tham gia Đại
hội lần thứ V Quốc tế Cộng sản; tiếp tục viết nhiều sách báo tuyên truyền cách
mạng, hoàn thành tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp.
Từ khi rời Liên
Xô về Quảng Châu (Trung Quốc) tháng 11/1924 đến tháng 2/1930, Nguyễn Ái Quốc
tích cực hoạt động, chuẩn bị các điều kiện tiến tới thành lập Đảng Cộng sản
Việt Nam. Người thành lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên (tháng 6/1925), mở
các lớp huấn luyện cán bộ, xuất bản Báo Thanh niên (1925) và tác phẩm Đường
cách mệnh (1927). Hè năm 1927, khi tình hình cách mạng Trung Quốc có nhiều biến
động phức tạp, Nguyễn Ái Quốc lại đi Liên Xô, sau đó đi Đức tháng 11/1927, rồi
bí mật sang Pháp, đến nước Bỉ dự cuộc họp của Đại hội đồng liên đoàn chống đế
quốc (tháng 12/1927), rồi quay lại Đức, đi Thụy Sỹ, sang Italia. Tháng 7/1928,
Nguyễn Ái Quốc tới Xiêm (Thái Lan), rồi trở lại Trung Quốc vào cuối năm 1929.
Từ ngày 6/1 đến ngày 7/2/1930 tại Hương Cảng, Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc chủ
trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
Từ năm 1930 đến
năm 1941, tuy hoạt động ở nước ngoài nhưng Nguyễn Ái Quốc vẫn chỉ đạo sát sao
phong trào cách mạng trong nước. Trong khoảng thời gian ấy, Người có lúc ở Liên
Xô, Trung Quốc, từng bị kẻ thù bắt giam ở Hồng Kông. Cuối năm 1932, Người được
trả tự do, sau đó đến Liên Xô học tại trường Quốc tế Lênin. Năm 1938, Người trở
về Trung Quốc chủ yếu hoạt động ở vùng Quảng Tây. Ngày 28/1/1941, sau 30 năm
bôn ba tìm đường cứu nước, Bác Hồ đã trở về Tổ quốc (Pác Bó, Cao Bằng), trực tiếp
lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Người triệu tập Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành
Trung ương Đảng, xác định đường lối đấu tranh giải phóng dân tộc, chỉ đạo thành
lập Mặt trận Việt Minh, sáng lập Báo Việt Nam độc lập, tổ chức lực lượng vũ
trang, xây dựng căn cứ địa cách mạng.
Tháng 5/1945,
trước những chuyển biến mau lẹ của tình hình và yêu cầu của cách mạng, Bác Hồ
quyết định rời Pác Bó, Cao Bằng về Tân Trào, huyện Sơn Dương, Tuyên Quang. Tại
đây Người đã lãnh đạo tổ chức các sự kiện lịch sử trọng đại liên quan trực tiếp
đến vận mệnh dân tộc: Hội nghị đại biểu toàn quốc của Đảng quyết định chủ
trương lãnh đạo toàn dân tổng khởi nghĩa, thành lập Ủy ban khởi nghĩa toàn
quốc, ra quân lệnh số 1 phát động Tổng khởi nghĩa trong cả nước; Quốc dân Đại
hội Tân Trào - Tiền thân của Quốc hội nước ta, bầu ra Ủy ban Giải phóng dân tộc
tức Chính phủ lâm thời. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân
dân ta đã tiến hành Tổng khởi nghĩa thắng lợi trong toàn quốc, giành chính
quyền về tay nhân dân. Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đã
đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa, đưa dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do, đưa nhân dân ta từ
thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội.
Phát huy thành
quả của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, nhân dân ta tiếp tục vượt
qua muôn vàn khó khăn, thử thách và giành được những thắng lợi vĩ đại trong các
cuộc kháng chiến chống xâm lược, mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên
Phủ năm 1954, Đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng dân tộc, thống nhất đất
nước, bảo vệ Tổ quốc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế; tiến hành công cuộc đổi mới,
công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, đưa đất nước từng bước quá
độ lên chủ nghĩa xã hội với nhận thức và tư duy mới đúng đắn, phù hợp thực tiễn
hiện nay.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét