Thứ Sáu, 26 tháng 4, 2019

Sức mạnh chân chính đè bẹp bè lũ phản động
Chiến thắng 30/4/1975 cho thấy một chân lý: không phải bao giờ sức mạnh của cường quyền bạo lực và đồng tiền cũng đè bẹp được chính nghĩa. Đấu tranh cho hòa bình, độc lập, thống nhất đất nước, Việt Nam là đại diện chân chính cho chính nghĩa, cho nên trong suốt cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu nước, nhân dân ta đã nhận được sự đồng tình ủng hộ to lớn cả về vật chất và tinh thần của bạn bè quốc tế và lực lượng tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới.
Tính chất phi nghĩa, tàn bạo của Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn bộc lộ rõ trong chiến tranh, đã ngày càng bị thế giới, trong đó có cả nhân dân tiến bộ Mỹ lên án, phản đối. Trong thời gian xảy ra chiến tranh, ở Mỹ đã có hơn 200 tổ chức chống chiến tranh, có 16 triệu trong tổng số 27 triệu thanh niên Mỹ đến tuổi quân dịch đã chống lệnh quân dịch, 75.000 người Mỹ bỏ ra nước ngoài vì, chống chiến tranh ở Việt Nam, không chịu nhập ngũ.
Bản chất phụ thuộc theo đuôi Mỹ của chế độ Sài Gòn và mối quan hệ giữa họ cũng ngày càng được phơi bày. Nguyễn Văn Thiệu – người đứng đầu chế độ Sài Gòn – khi còn đương nhiệm đã công khai “lý tưởng” của chính quyền ông ta: “Mỹ còn viện trợ thì chúng ta còn chống Cộng”, “nếu Hoa Kỳ không viện trợ cho chúng tôi nữa thì không phải là một ngày, một tháng hay một năm mà chỉ sau 3 giờ chúng tôi sẽ rời khỏi Dinh Độc lập”.
Trước đó, để ép chính quyền Thiệu phải ký hiệp định Pa-ri (tháng 01/1973), R. Ních-xơn, Tổng thống Mỹ cũng từng trao đổi với thuộc cấp của mình rằng: “Tôi không biết sự đe dọa của chúng ta có đi quá xa không, nhưng tôi sẽ làm bất cứ điều gì, kể cả những điều không hay ho gì như cắt cái đầu của Thiệu”. Trong diễn văn từ chức vào thời điểm không thể cứu vãn nổi sự sụp đổ (ngày 21/4/1975), Nguyễn Văn Thiệu đã không tiếc lời chỉ trích Mỹ: “là một đồng minh thất hứa, thiếu công bằng, thiếu tín nghĩa, vô nhân đạo, trốn tránh trách nhiệm,…”.
Những điều đó, thật khác xa với những gì mà trước đó họ thường rêu rao, tâng bốc nhau, mà không ít người lầm tưởng như họ là “đồng minh”, là đại diện của “chính nghĩa, quốc gia, dân tộc”.
Đối với dân tộc Việt Nam, chiến thắng ngày 30/4/1975 không phải là một thắng lợi dễ dàng. Thực sự, đó là “chiến thắng lớn từ hy sinh to lớn”. Hơn 3 triệu đồng bào, chiến sĩ đã ngã xuống; hàng ngàn làng mạc, thành phố bị san phẳng; nhiều di chứng của cuộc chiến đến nay vẫn dày vò hàng chục vạn gia đình.
Vượt qua những mất mát đau thương, chúng ta đã để lại cho hậu thế và bạn bè quốc tế sự kính trọng và nể phục về sự anh dũng, kiên cường, bất khuất của quân và dân Việt Nam. Chiến thắng đã thuộc nhân dân Việt Nam anh hùng, Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Đó cũng là thắng lợi của bạn bè, các lực lượng tiến bộ và yêu chuộng hòa bình trên thế giới.
Chiến thắng 30/4/1975, đất nước giải phóng, Bắc – Nam sum họp một nhà. Đây là lần đầu tiên sau 117 năm (từ năm 1858 đến năm 1975), đất nước không còn bóng quân xâm lược. Chiến thắng ngày 30/4/1975 của nhân dân ta được thế giới, trong đó có cả những chính khách, tướng lĩnh Mỹ từng trực tiếp tham gia, buộc phải hết lời ca ngợi, xem đó như một biểu tượng của tinh thần quả cảm, không chịu khuất phục.
Tại Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV đã viết: “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”.
                                                                                 H.A

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét