CHIẾN THẮNG LỊCH SỬ XUÂN 1975- CHÂN LÝ
CỦA THỜI ĐẠI
Chiến thắng lịch sử Xuân 1975 đã qua đi hơn 40 năm nhưng
ý nghĩa, giá trị to lớn của nó vẫn tồn tại mãi với thời gian, nhất là đối với
các dân tộc đang nỗ lực đấu tranh vì sự tiến bộ, văn minh, hạnh phúc. Vậy mà,
nực cười thay vẫn có những kẻ cố tình phủ định sự thật lịch sử với động cơ, mục
đích đen tối, định kiến, thù địch; không những tìm cách cào bằng vai trò của
các bên tham chiến, họ còn trắng trợn ngụy biện, đổi trắng thay đen giữa kẻ đi
xâm lược đã từng gây vô vàn tội ác cho dân tộc Việt Nam với những người đã
không tiếc máu xương hy sinh vì hoà bình, độc lập, tự do và thống nhất đất
nước. Chiến tranh đã lùi xa, sự phân định giữa chính nghĩa và phi nghĩa, giữa
chiến thắng và thất bại đã rõ ràng. Việt Nam đã trở thành đối tác của nhiều
quốc gia; trong đó, có các quốc gia từng trực tiếp hoặc tham gia chiến tranh
xâm lược ngày đó, nay cùng hợp tác, phát triển. Thế nhưng, mỗi khi đến dịp 30/4
hàng năm, họ đều tìm cách khuấy đảo lên sự thù hận với các lý lẽ, luận điệu phi
lý, ngụy biện, sống sượng xung quanh vấn đề tính chất cuộc chiến. Sự can thiệp
trắng trợn, vô nhân đạo của chủ nghĩa đế quốc vào chủ quyền của dân tộc Việt
Nam được coi là một hành động để “bảo vệ” nền dân chủ và những người “theo chân
voi ăn bã mía” chia cắt đất nước, tàn sát đồng bào mình được coi là một “sự lựa
chọn chính trị khác” theo “lý tưởng khác”. Và có cả sự đặt điều, lấp liếm rằng
miền Bắc xâm lược miền Nam hay cuộc chiến tranh ở Việt Nam 1954 - 1975 chỉ là
nội chiến. Có người vì “thương xót” cho hàng triệu sinh linh đã ngã xuống trong
chiến tranh còn phàn nàn “làm gì phải phát động chiến tranh, chỉ cần đợi, đế
quốc sẽ trả lại chủ quyền đất nước”... Thật lố bịch! Sự ngụy biện tùy tiện, đổi
trắng thay đen còn diễn ra ở một số người tự xưng là “có tâm với nước, với
dân”. Tuy nhiên chân lý chỉ có một, lịch sử và sự kiểm nghiệm lịch sử là thước
đo chân lý chuẩn xác nhất, bác bỏ mọi xuyên tạc. Ngược dòng lịch
sử sẽ thấy, một sự thật hiển nhiên là cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam đế
quốc khởi xướng với sự tiếp tay, phản bội dân tộc của ngụy quyền Sài Gòn đã
thất bại thảm hại vào tháng 4/1975 là một tất yếu không tránh khỏi. Nguyên nhân
trước hết đó là một cuộc chiến tranh phi nghĩa, tàn bạo. Từ lâu, chúng đã coi
miền Nam Việt Nam là địa bàn chiến lược, để ngăn chặn ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng
sản tại Đông Nam Á. Họ cần có một chính phủ chống cộng, biết nghe lời và phục
vụ đắc lực cho mưu đồ bá chủ thế giới. Thực hiện Hiệp định Giơnevơ về lập lại hòa
bình ở Việt Nam và Đông Dương, trong khi Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa cố
gắng theo đuổi các giải pháp hòa bình, thì ngay từ đầu, chúng đã rắp tâm tìm
mọi cách chia cắt, phá hoại công cuộc hòa bình, thống nhất đất nước. Các yêu
cầu đàm phán, tiến tới Tổng tuyển cử, thống nhất hai miền Nam - Bắc liên tiếp
được Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đưa ra và đều bị từ chối vào tháng 6,
tháng 7/1957, tháng 3, 12/1959 và tháng 7/1960. Thay vào đó là các chiến
dịch lê máy chém khắp miền Nam, đàn áp khốc liệt những người kháng chiến cũ,
những đảng viên cộng sản, những ai mong muốn thống nhất đất nước. Tiếp đó là
các chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, “chiến tranh cục bộ”, “Việt Nam hóa
chiến tranh tàn phá miền Nam, tiêu diệt phong trào đấu tranh của quần chúng,
nhằm thực hiện mưu đồ của chúng. Đã từng phải
chịu đựng những thử thách, hy sinh bởi chiến tranh, chia rẽ vùng miền và sự
thống trị của ngoại bang, nên hơn ai hết, người dân Việt Nam thấu hiểu giá trị
của hòa bình, độc lập và thống nhất đất nước. Nhân dân và chính phủ Việt Nam đã
tranh thủ mọi thời cơ để gìn giữ, bảo vệ những giá trị đó, nhưng chúng đã chà
đạp, phá hoại những nguyện vọng thiêng liêng chính đáng của mình, buộc chúng ta
không còn lựa chọn nào khác phải tiếp tục chiến đấu để giải phóng miền Nam,
thống nhất đất nước. Trong 21 năm vượt qua vô vàn gian khổ, hy sinh, dân tộc
Việt Nam đã đánh thắng một thế lực đế quốc có tiềm lực kinh tế, quân sự hùng
hậu hàng đầu thế giới. Có nhiều nhân tố đã góp phần làm nên sự tích thần kỳ ấy;
trong đó, việc phát huy cao độ truyền thống yêu nước và giương cao ngọn cờ
chính nghĩa, đường lối độc lập, tự chủ, sáng tạo của Đảng, khát vọng hòa bình,
giải phóng dân tộc của nhân dân ta là một trong những nguyên nhân mang tính
quyết định.
Cuộc chiến tranh
do chúng tiến hành ở Việt Nam là phi nghĩa, trái đạo lý, bị lên án không chỉ vì
mục đích của nó, vì sự hao người, tốn của, mà còn bởi nó đã thể hiện rõ tính
chất tàn bạo, vô nhân tính. Đó là một trong các cuộc chiến tranh tổn hại nhất
trong lịch sử với tổng chi phí lên tới 700 tỉ USD (tính theo thời giá năm 2018);
là khoản tiền lớn nhất mà chúng đã chi cho chiến tranh, chỉ sau đại chiến Thế
giới thứ 2. Làn sóng viện trợ trút vào miền Nam Việt Nam thời điểm cao nhất kéo
dài từ 1966 - 1970 lên tới 25 tỉ USD mỗi năm. Cùng với Quân đội đế quốc và ngụy
quyền Sài Gòn, có thời điểm còn có sự tham gia của quân đội 5 nước đồng minh
trực tiếp và 29 nước khác gián tiếp với khoảng 6 triệu lượt binh sĩ tham chiến.
Trong khoảng thời gian đó, chúng đã tổ chức nhiều chiến dịch lùng sục, càn quét
và thảm sát tại khắp nơi ở miền Nam; đồng thời, còn tiến hành 2 cuộc chiến
tranh phá hoại bằng đường không ở miền Bắc, tàn phá nặng nề các công trình giao
thông, kinh tế, trường học, bệnh viện… nhằm “đưa Việt Nam trở về thời kỳ đồ
đá”. Việt Nam đã trở thành bãi chiến trường để chúng phô diễn, thử nghiệm hầu
hết các loại phương tiện, vũ khí chiến tranh; trong đó, có nhiều loại hiện đại,
tối tân lần đầu tiên được sử dụng. Chúng đã ném xuống Việt Nam khoảng 7,85
triệu tấn bom, gấp 3 lần số bom sử dụng trong chiến tranh Thế giới 2; rải xuống
khắp miền Nam Việt Nam khoảng 75 triệu lít chất độc hóa học điôxin... Cuộc
chiến tranh đã cướp đi nhiều triệu sinh mạng, nhưng số người thương vong, tàn
tật, chịu di chứng trên nhiều mặt ở các bên tham chiến còn nhiều hơn gấp bội.
Bên cạnh sinh mạng con người, hậu quả nghiêm trọng về chính trị, kinh tế, môi
trường, phải mất nhiều thời gian, công sức mới khôi phục được. Điều đáng nói
nhất là những di chứng về mặt xã hội đã gây ra sự chia rẽ sâu sắc, lâu dài
trong lòng dân tộc Việt Nam. Sự hận thù, lòng tự ti, mặc cảm là những cản trở
lớn cho sự hòa hợp dân tộc sau chiến tranh và cả những giọt nước mắt muộn màng
về những tội ác của mình gây ra đối với đồng bào, dân tộc mình. Tất cả những điều
đó là hậu quả của cuộc chiến tranh phi nghĩa mà chúng gây ra và là bài học cảnh
tỉnh cho những ai còn có tư tưởng bá quyền, cho mình đứng trên các dân tộc
khác. Đại thắng Xuân
1975 cho thấy một chân lý là cường quyền, bạo lực, đồng tiền không đè bẹp được
chính nghĩa. Đấu tranh cho hòa bình, độc lập, thống nhất đất nước, Việt Nam là
đại diện chân chính cho chính nghĩa; cho nên trong suốt cuộc chiến tranh cứu
nước, nhân dân ta đã nhận được sự đồng tình ủng hộ to lớn cả về vật chất và
tinh thần của bạn bè quốc tế và lực lượng tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên
toàn thế giới. Tính chất phi nghĩa, tàn bạo của chúng bộc lộ rõ trong chiến
tranh, đã ngày càng bị thế giới, nhân loại tiến bộ lên án, phản đối. Đã có hơn
200 tổ chức chống chiến tranh, có 16/27 triệu thanh niên ở Mỹ đến tuổi quân
dịch chống lệnh, 75.000 người bỏ ra nước ngoài để chống chiến tranh ở Việt Nam,
không chịu nhập ngũ. Bản chất phụ thuộc theo đuôi của chế độ Sài Gòn và mối
quan hệ giữa họ cũng ngày càng được phơi bày. Nguyễn Văn Thiệu - người đứng đầu
chế độ Sài Gòn - khi còn đương nhiệm đã công khai “lý tưởng: Mỹ còn viện trợ
thì chúng ta còn chống cộng”, “nếu Hoa Kỳ không viện trợ cho chúng tôi nữa thì
không phải là một ngày, một tháng hay một năm mà chỉ sau 3 giờ chúng tôi sẽ rời
khỏi Dinh Độc lập”. Sau 21 năm kháng
chiến và 44 năm sau chiến tranh, sự thật và chân lý đã được lịch sử kiểm
nghiệm, ánh sáng soi rọi. Những sự ngụy biện, xuyên tạc thực tế nhằm phục vụ
cho một mưu đồ đen tối không những chỉ là ảo tưởng mà còn là tội lỗi với lịch sử,
với các thế hệ ông cha đã không tiếc máu xương hy sinh cho sự yên bình và hạnh
phúc của đất nước này. Bất cứ dân tộc nào có tự trọng trên thế giới đều có
quyền tự hào về truyền thống lịch sử đánh giặc ngoại xâm, gìn giữ, bảo vệ Tổ
quốc của mình. Chiến thắng lịch sử 30/4/1975 đã kết thúc sự chia rẽ Bắc - Nam,
chấm dứt vĩnh viễn ách thống trị kéo dài trên 100 năm của thực dân, đế quốc
trên đất nước ta, nước nhà độc lập, non sông thu về một mối, đã trở thành một
trang vàng chói lọi trong lịch sử hào hùng của dân tộc để các thế hệ hôm nay và
mai sau gìn giữ và phát huy./.
MẶT TRỜI
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét