SỰ CHỈ ĐẠO CHIẾN LƯỢC SẮC SẢO
CỦA ĐẢNG TA TRONG CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG
VÀ NỔI DẬY MÙA XUÂN 1975
MẶT TRỜI
Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là cuộc đọ sức
quyết liệt giữa dân tộc Việt Nam với đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai. Đó là một
trong những cuộc chiến tranh giải phóng lâu dài, vĩ đại nhất trong lịch sử
chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam. Nhân tố quyết định nhất làm nên
thắng lợi vĩ đại đó là sự lãnh đạo của Đảng với đường lối kháng chiến đúng đắn,
sáng tạo; cùng với đó là sự chỉ đạo chiến lược tài tình, sắc sảo của “Bộ thống
soái”, đứng đầu là Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sự chỉ đạo đó được thể hiện
rõ trong cả cuộc kháng chiến, cả đối với tiền tuyến lớn miền Nam và hậu phương
lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa. nhưng được thể hiện nổi bật và tiêu biểu nhất là
trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975.
Bước sang năm
1975, tình hình chiến trường miền Nam có chuyển biến tích cực, quân và dân ta ở
thế chủ động, đẩy địch vào thế phòng ngự bị động. Trong phiên họp ngày 07/01/1975
của Bộ Chính trị bàn về tình hình và nhiệm
vụ cuộc chống Mỹ, cứu nước đã nhận định: Thế và lực của ta đã mạnh hơn
hẳn địch cả về chính trị và quân sự; dân tộc ta đang đứng trước thời cơ
lịch sử để giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Từ đó, xác
định quyết tâm gấp rút chuẩn bị mọi mặt để kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh
cứu nước trong năm 1975 hoặc năm 1976; đồng thời giao Bộ Tổng Tham mưu là cơ
quan triển khai thực hiện quyết định có ý nghĩa lịch sử này của Bộ Chính trị.
Theo đó, Bộ Tổng Tham mưu đã trực tiếp tham mưu cho Bộ Chính trị lãnh đạo, chỉ
đạo cuộc Tổng tiến công; đặc biệt là trong việc nắm tình hình, xây dựng phương
án, quyết tâm chiến lược và tổ chức lực lượng trên chiến trường. Trong đó, nổi
bật là việc tham mưu chọn hướng, mục tiêu tiến công trong chiến dịch Tây
Nguyên. Đây là đòn đánh hiểm, điểm trúng “huyệt” quân địch; dẫn đến phá vỡ hệ
thống phòng thủ của địch, tạo sự đột biến về chiến lược. Sau khi Tây Nguyên
được giải phóng, địch tháo chạy co cụm ở Nha Trang, Cam Ranh. Ngày 18/3/1975,
Bộ Chính trị họp, nhận định thắng lợi ở Tây Nguyên đã tạo ra thời cơ mới trong
cục diện chung và hạ quyết tâm chuyển cuộc tiến công chiến lược thành cuộc Tổng
tiến công và nổi dậy để giành toàn thắng. Ngày 01/4/1975, Bộ Chính trị họp và
quyết định phải nắm vững thời cơ chiến lược, quyết tâm thực hiện tổng tiến công
và nổi dậy, kết thúc thắng lợi chiến tranh giải phóng trong thời gian ngắn
nhất. Tốt hơn cả là bắt đầu và kết thúc trong tháng 4 năm nay, không để chậm.
Ngày 14/4/1975, Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch Hồ Chí Minh, thực tế diễn
ra từ ngày 26 đến ngày 30/4/1975, kết thúc toàn tháng cuộc kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước của quân và dân ta. Điều đó cho thấy nhãn quan chiến lược sắc sảo
của Đảng ta. Đó là kết quả của sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo nghệ thuật quân
sự nhằm vào những nơi hiểm yếu của địch, tạo yếu tố bất ngờ. Sự chỉ đạo chiến
lược tài tình, sắc sảo của Đảng ta trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975
được thể hiện:
Một là, Đảng ta chỉ đạo tăng cường xây dựng lực lượng, bao gồm cả bộ đội chủ lực và lực
lượng vũ trang địa phương, quần chúng cách mạng, tạo sức mạnh ưu thế áp đảo
địch. Theo đó, trong năm 1974 và đầu năm 1975, chúng ta đã tổ
chức thành lập liên tiếp 4 quân đoàn chủ lực và một số đơn vị binh chủng, quân
chủng, tạo nên những “quả đấm thép” trên các địa bàn chiến lược. Đồng thời,
tăng cường vũ khí, trang bị, vật chất cho chiến trường miền Nam, cả bộ đội chủ
lực và lực lượng vũ trang địa
phương. Vì thế, trong chiến dịch Tây Nguyên, ta đã sử dụng lực lượng áp đảo
địch với tỷ lệ so sánh ta/địch bộ binh là 4,5/1; xe tăng thiết giáp là 5,5/1;
pháo binh cơ giới là 5/1. Trong đòn tiến công vào Huế - Đà Nẵng (gồm chiến dịch
Trị Thiên, chiến dịch Nam Ngãi và chiến dịch Đà Nẵng) ta đã huy động Quân đoàn
2 và các đơn vị của Quân khu Trị Thiên đang chiến đấu trên địa bàn với tổng số
trên 60.000 quân. Sau khi giải phóng Huế và Đà Nẵng, Bộ Chính trị chỉ đạo tổ
chức cánh quân duyên hải bao gồm Quân đoàn 2 và một số đơn vị khác của Khu 5 để
nhanh chóng phát triển, giải phóng các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ, phá vỡ
tuyến phòng thủ Phan Rang, Xuân Lộc; sau đó, cùng các cánh quân khác bao vây
Sài Gòn, chuẩn bị cho chiến dịch Hồ Chí Minh. Ngày 7/4/1975, Trung ương Cục
miền Nam báo cáo phương án đánh vào Sài Gòn, Bộ Chính trị quyết định điều chỉnh
lại kế hoạch để tổ chức một chiến dịch quy mô lớn, chắc thắng. Theo đó, ta đã
tập trung lực lượng ưu thế áp đảo địch, bao gồm các lực lượng của 4 quân đoàn
và các sư đoàn, trung đoàn độc lập (khoảng 270.000 quân chủ lực, gấp địch 1,7
lần). Lực lượng đó được bố trí trên 5 hướng tiến công vào Sài Gòn. Điều đó đã
tạo ưu thế về lực lượng, hình thành sức mạnh áp đảo địch trong trận quyết chiến
chiến lược.
Hai là, Đảng chỉ đạo
việc phối hợp hoạt động giữa các chiến trường. Thực tế cho thấy, ta đã
chủ động hoàn toàn cả về hướng tiến công, thời gian, địa điểm và quy mô lực
lượng. Cùng với chiến dịch Tây Nguyên, Bộ Chính trị đã quyết định mở chiến dịch
Trị Thiên và chiến dịch Nam Ngãi diễn ra đồng thời từ ngày 05/3/1975 (chỉ sau
khi mở chiến dịch Tây Nguyên một ngày), nhằm phối hợp tác chiến, căng kéo địch,
không cho chúng rút lực lượng ở Huế, Đà Nẵng lên ứng cứu Tây Nguyên. Đây là đòn
chiến lược lớn thứ 2 đánh vào vùng chiến thuật I, thuộc Quân khu I của quân đội
Sài Gòn. Vì thế, Tây Nguyên bị cô lập, địch không có khả năng ứng cứu, ta đã
nhanh chóng giành thắng lợi, tạo ra bước phát triển đột biến về chiến lược. Sau
khi giải phóng Tây Nguyên, Bộ Chính trị đã chỉ đạo Quân ủy Trung ương và Bộ
Quốc phòng “chớp thời cơ nâng cao tốc độ tiến công”. Theo đó, các đơn vị đã
thừa thắng, phát triển xuống vùng duyên hải Trung Bộ lần lượt giải phóng Bình
Khê, Phú Yên, Nha Trang, Cam Ranh... làm toàn bộ lực lượng Quân đoàn 2, Quân
khu 2 của địch bị tan rã; hệ thống phòng thủ chiến lược của địch bị chia cắt,
tạo nên thời cơ mới. Tiếp đó, đòn tiến công chiến lược vào Huế - Đà Nẵng thắng
lợi tạo ra bước nhảy vọt về chiến lược, làm thay đổi hoàn toàn cục diện so sánh
lực lượng, thế trận. Trên đà thắng lợi, với tư tưởng chỉ đạo “thần tốc, táo
bạo, bất ngờ, chắc thắng”, “thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn
nữa”, các đơn vị của ta đã nhanh chóng phát triển về Sài Gòn. Dưới sự chỉ đạo
của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, lực lượng trên các chiến trường đã có
sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng, tạo thành sức mạnh tổng hợp, dồn địch vào thế
hoàn toàn bị động, cô lập, bất ngờ, nên nhanh chóng thất bại. Như vậy, về chiến
lược, Đảng ta đã nắm vững thời cơ, giải quyết thành công việc tổ chức các chiến
dịch đồng thời và kế tiếp nhau, vừa theo kế hoạch, vừa không theo kế hoạch khi
thời cơ xuất hiện. Đó là các đòn tiến công chiến lược: Tây Nguyên, Huế - Đà
Nẵng và Sài Gòn. Vấn đề này được Đại tướng Văn Tiến Dũng - người trực tiếp tổng
chỉ huy các đơn vị trên chiến trường miền Nam, khẳng định: “Bộ Chính trị Đảng
ta với tinh thần triệt để cách mạng, tư tưởng tích cực tiến công, phân tích sự
việc rất khoa học, có tầm mắt nhìn xa, phát hiện nhạy bén”.
Ba là, Đảng
chỉ đạo kết hợp chặt chẽ giữa tiến công và nổi dậy. Đây là nét đặc sắc của
nghệ thuật quân sự, đỉnh cao của chiến tranh nhân dân Việt Nam được thể hiện
trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung và cuộc Tổng tiến công và nổi
dậy mùa Xuân 1975 nói riêng. Đó là sự kết hợp giữa những đòn tiến công quân sự
bằng các trận đánh hiệp đồng binh chủng quy mô lớn của bộ đội chủ lực đánh
thẳng vào các đô thị, trung tâm đầu não, căn cứ quân sự lớn của địch và sự nổi
dậy mạnh mẽ của quần chúng cách mạng, đập tan bộ máy kìm kẹp của ngụy quyền ở
địa phương, cơ sở để giành quyền làm chủ. Để chỉ đạo các lực lượng đẩy nhanh
tiến công Đà Nẵng, trong Điện gửi vào chiến trường hồi 18 giờ 00 ngày 27/3/1975,
Bộ Chính trị đã chỉ thị: Phải nhanh chóng phát động quần chúng vũ trang nổi
dậy, đập tan các lực lượng kìm kẹp ở cơ sở, chiếm lĩnh các công sở.... và sáp
vào vận động binh sĩ địch bỏ súng đầu hàng, làm tan rã các đơn vị quân ngụy. Sự
nổi dậy mạnh mẽ của đông đảo nhân dân trên các địa bàn từ nông thôn đến thành
thị đã tạo thuận lợi cho bộ đội chủ lực tập trung lực lượng vào mục tiêu chủ
yếu của cuộc Tổng tiến công, nhanh chóng đập tan sự kháng cự của địch. Lực
lượng du kích đã cùng nhân dân bao vây, bức hàng, vận động địch ra trình diện,
giữ trật tự an toàn vùng mới giải phóng, bảo vệ các nhà máy, công sở, không để
địch phá hoại. Để chuẩn bị cho giải phóng Sài Gòn, từ đầu năm 1975, Thành ủy
Sài Gòn - Gia Định đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo phát triển lực lượng vũ trang
địa phương và quần chúng cách mạng. Đến đầu tháng 4/1975, cùng với các đơn vị
chủ lực, Thành phố đã có 3.345 du kích, 233 tự vệ mật và trên 25.000 quần chúng
cách mạng sẵn sàng nổi dậy. Trong Điện gửi Trung ương Cục miền Nam, hồi 15 giờ
30 ngày 22/4/1975, Bộ Chính trị đã chỉ thị: Sẵn sàng phát động quần chúng nổi
dậy kết hợp với các cuộc tiến công của quân đội. Sự hợp đồng giữa các hướng
cũng như giữa tiến công và nổi dậy sẽ thực hiện trong quá trình hành động.
Trong khi chiến dịch Hồ Chí Minh đang diễn ra sôi động, quyết liệt nhất, từ
ngày 28/4/1975, các cuộc tiến công và nổi dậy ở đồng bằng sông Cửu Long cũng nổ
ra đồng loạt, mạnh mẽ, làm cho địch càng thêm hoang mang, dao động.
Bốn là, cùng với các hoạt động quân sự, chính trị, Đảng ta
còn chỉ đạo tăng cường các hoạt động
ngoại giao; đẩy mạnh tuyên truyền về cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân
dân ta, nhằm tranh thủ sự ủng hộ của các lực lượng tiến bộ trên thế giới, trong
đó có nhân dân Mỹ, đấu tranh không cho chính quyền Mỹ can thiệp quân sự trở
lại. Trong kết luận đợt hai, ngày 07/01/1975 của Hội nghị Bộ Chính trị bàn về tình hình và nhiệm vụ cuộc chống Mỹ,
cứu nước, đã nhấn mạnh: Sử dụng khôn khéo vũ khí đấu tranh ngoại giao, góp phần giương cao ngọn cờ hòa bình, độc
lập, hòa hợp dân tộc nhằm cô lập bọn tay sai ngoan cố; làm sáng tỏ chính nghĩa
của ta, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các lực lượng cách mạng và nhân dân
tiến bộ trên thế giới; ngăn chặn âm mưu, thủ đoạn can thiệp, phá hoại của đế quốc
Mỹ và bọn phản động quốc tế. Thắng lợi của đấu tranh ngoại giao đã tạo điều
kiện cho đấu tranh quân sự và chính trị giành thắng lợi trên chiến trường. Mặt
khác, thắng lợi của cách mạng Việt Nam còn tạo ra thời cơ lớn cho nhân dân
Campuchia giải phóng đất nước (17/4/1975) và nhân dân Lào giành độc lập (02/12/1975).
Nhìn lại toàn bộ
cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 đã khẳng định đường lối cách mạng
đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta. Điều đó được biểu hiện cụ thể, trực tiếp ở sự
lãnh đạo, chỉ đạo chiến lược tài tình, sắc sảo của Đảng và Bộ Chính trị. Đại
thắng mùa Xuân 1975 kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; ghi vào lịch
sử dân tộc như một trong những trang vàng chói lọi nhất, một biểu tượng sáng
ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Năm tháng trôi đi nhưng những bài học về
sự chỉ đạo chiến lược sắc sảo được rút ra từ chiến thắng vĩ đại đó còn nguyên
giá trị. Chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu để phát triển đường lối quân sự,
chiến lược quân sự và nghệ thuật quân sự Việt Nam, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ
bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét