Ý nghĩa và tầm
vóc lịch sử của Chiến thắng 30/4/1975
Chiến thắng 30/4/1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam,
thống nhất Tổ quốc, chúng ta cũng đồng thời phê phán những sự xuyên
tạc lịch sử về Chiến thắng này với những thiên kiến lệch lạc,
những ác ý thâm độc của các thế lực thù địch và cả những ngộ
nhận, mơ hồ trong sự nhìn nhận, đánh giá sự thật lịch sử. Không ít
người trong chính giới Mỹ, nhất là những người đã trực tiếp tham gia
trong bộ máy quyền lực, hoạch định chiến lược và chính sách của Mỹ
đối với miền Nam Việt Nam hồi đó vẫn thường biện minh cho hành động
của họ, coi đó là cần thiết để ngăn chặn sự bành trướng của CNCS ở
châu Á và Đông Nam Á. Họ còn cho rằng, Mỹ hành động ở miền Nam là
để giúp cho Việt Nam tiếp cận được văn minh và văn hóa phương Tây như
một mẫu hình của dân chủ và tự do. Họ cũng xuyên tạc sự thật lịch
sử khi cố sức tạo ấn tượng về một miền Bắc cộng sản xâm lược, thôn
tính miền Nam và Mỹ có trách nhiệm bảo vệ đồng minh của mình (ngụy
quyền Việt Nam Cộng hòa do chính Mỹ tạo ra bằng sức mạnh của đồng đô
la và quân sự), chứ không phải Mỹ xâm lược Việt Nam. Song, sự thật lịch
sử vốn khách quan và tường minh, nó không phải như vậy!
Để thực hiện mục tiêu thôn tính miền Nam Việt Nam, biến nơi đây thành thuộc
địa kiểu mới, thành căn cứ quân sự của mình, đế quốc Mỹ đã đưa vào đây hơn nửa
triệu quân để tham chiến và sử dụng tất cả các loại vũ khí, kỹ thuật hiện đại
nhất với xe tăng, máy bay, đại bác và vũ khí hóa học hủy diệt sự
sống trên mặt đất, mưu toan đè bẹp ý chí chiến đấu của dân tộc ta,
buộc chúng ta phải khuất phục. Và, nhất là, khi liên tiếp sa lầy, thất
bại trên chiến trường miền Nam, thì quân đội Hoa Kỳ đã mạo hiểm, phiêu
lưu dùng ván bài cuối cùng hết sức vô nhân tính - ném bom hủy diệt Thủ
đô Hà Nội bằng siêu pháo đài bay B.52, liên tục 12 ngày đêm vào cuối năm
1972, với lời hăm dọa “đưa miền Bắc Việt Nam trở về thời đồ đá”.
Miền Nam là một bộ phận không tách rời của Việt Nam; nói như Hồ
Chí Minh, đó là thịt của thịt Việt Nam, máu của máu Việt Nam, sông có
thể cạn, núi có thể mòn, nhưng chân lý đó không bao giờ thay đổi.
Quyền sống, quyền tự quyết dân tộc, quyền mưu cầu hạnh phúc là
những quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Những hành động xâm phạm độc
lập, chủ quyền lãnh thổ, can thiệp, áp đặt,… là điều trái đạo lý
và pháp lý, thủ đoạn thường thấy ở các thế lực thực dân đế quốc.
Ở đâu có những hành động ấy, ở đó tất yếu có sự đáp trả của nhân
dân và dân tộc đã từng gắn kết bên nhau vì sự sống còn, vì số phận
lịch sử, vì tự do và nhân phẩm. Đáp lại đòi hỏi ấy, quân - dân ta ở
cả hai miền Nam - Bắc đã coi chống thực dân, đế quốc và những thế
lực đi ngược lại lợi ích chung của dân tộc là một sứ mệnh thiêng
liêng. Ở đâu có kẻ thù xâm lược Việt Nam, ở đó có người Việt Nam
chống xâm lược. Đó là mệnh lệnh của ý thức dân tộc và lòng yêu
nước. Chỉ có người Việt Nam chống kẻ thù xâm lược chứ không có
chuyện miền Bắc xâm lược miền Nam như sự tuyên truyền từ những thế lực
thù địch hiếu chiến và những kẻ phản động tự tách mình khỏi dân tộc
vẫn thường rêu rao. Với mục tiêu, tính chất, lực lượng, phương tiện mà họ đã
sử dụng trong cuộc chiến thì phải khẳng định: đây là cuộc chiến tranh xâm lược
Việt Nam của đế quốc Mỹ. Đó là điều thứ nhất mà sự thật cần lên
tiếng.
Chiến thắng 30/4/1975 là sự tôn
vinh sức mạnh và niềm tự hào của mỗi người Việt Nam, của cả cộng
đồng dân tộc Việt Nam. Nhưng đâu đó, vẫn cất lên tiếng nói từ những
người mang ý thức hệ xa lạ với nhân dân và dân tộc mình, coi đó là
ngày “quốc hận” - một cái nhìn sai lạc và xuyên tạc sự thật lịch
sử, đi ngược lại tinh thần khoan dung, đồng thuận, đoàn kết của toàn
dân ta; tự reo rắc hận thù, chia rẽ, ngược với trào lưu lịch sử.
Song, sự thật những gì diễn ra ở miền Nam suốt hai thập kỷ đã tự nó
nói lên tất cả về cái tồn tại trong quá khứ của chính thể Việt Nam
Cộng hòa do Mỹ dựng lên. Đã không có độc lập, tự chủ thì chỉ là
lệ thuộc. Giải phóng miền Nam, xóa bỏ một trật tự lỗi thời, một
sản phẩm trái mùa của lịch sử là một thắng lợi của chính nghĩa, đem
lại độc lập, tự do thật sự cho nhân dân. Nuối tiếc cái đã lùi vào
dĩ vãng để gieo rắc ý thức “quốc hận” là xa lạ với chính đồng
bào, dân tộc mình. Tư tưởng, quan điểm đó nếu không phải là sự nuôi
dưỡng, kích động sự thù địch, chia rẽ dân tộc một cách có chủ đích
thì cũng là một nhận thức mơ hồ về sự thật lịch sử, đều tiếp tay
cho kẻ thù, có hại cho tinh thần hòa hợp, đoàn kết dân tộc, cần
phải phê phán. Đó là điều thứ hai cần nói tới trong tư duy phê
phán của chúng ta.
Lại có cách nhìn lệch lạc khác, cho rằng, Chiến thắng 30/4/1975 và sự nghiệp kháng chiến của dân tộc ta ròng rã mấy thập
kỷ là cái giá phải trả quá đắt, là một sai lầm, làm cho dân tộc
đau thương, chậm phát triển, trách nhiệm ấy họ quy cho Đảng ta, cho con
đường mà Hồ Chí Minh lựa chọn. Đây cũng lại là một nhận thức phi
lịch sử, muốn phủ nhận chiến thắng của nhân dân ta, đồng thời là phủ
nhận cả lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH mà chúng ta đã lựa chọn,
kiên trì theo đuổi. Cách nhìn ấy muốn đánh đồng người chiến thắng
và kẻ thất bại, xóa nhòa mục đích, tính chất, bản chất của sự
nghiệp cách mạng của dân tộc ta. Thực tế lịch sử đã chỉ rõ, sự sụp đổ
không sao tránh khỏi của chế độ ngụy quyền Sài Gòn với hình thức
chính thể “Việt Nam Cộng hòa” trong cơn bão táp cách mạng giải phóng
miền Nam 30/4/1975 là bằng chứng không thể chối cãi về sự phá sản,
thất bại của chủ nghĩa thực dân mới, chủ nghĩa đế quốc Mỹ. Đó là
sự phá sản, thất bại của các thế lực xâm lược bên ngoài, hòng áp
đặt ách thống trị, nô dịch, áp bức và bóc lột nhân dân ta ở miền
Nam, được ngụy trang và biện minh bằng những lời lẽ tốt đẹp, những
“học thuyết” và “chính sách” tô vẽ cho dân chủ, tự do, cho tiến bộ
và phát triển đầy giả dối theo hệ giá trị của Mỹ.
Chiến thắng 30/4/1975 là kết quả
tiệm tiến và nhảy vọt của biết bao tích lũy, trải nghiệm, hy sinh của cả dân
tộc, của các thế hệ, của sức mạnh tổng hợp và tổng lực của toàn dân, toàn quân.
Đó là một tất yếu, sự lựa chọn của lịch sử dành cho Đảng Cộng sản Việt Nam, vì
đã có đường lối cách mạng đúng đắn. Sẽ không có thành công nào, khi mà
đường lối, chính sách đi ngược lại nguyên vọng, lợi ích của nhân dân. Đó là
thực tế. Tỏa sáng từ Chiến thắng đó ta thấy, không có sự lãnh đạo của Đảng,
được dẫn dắt bởi thiên tài tư tưởng Hồ Chí Minh, không thể có thành
quả chiến thắng và cơ đồ sự nghiệp như ngày nay. Đó là điều
thứ ba cần phải nhấn mạnh trên tinh thần trọng sự thật và lẽ phải.
Dù khép lại quá khứ nhưng không được quên quá khứ, càng không thể
phủ nhận và phỉ báng lịch sử. Sự tàn bạo, phi nhân, tội ác mà thực
dân, đế quốc và những thế lực do chúng nuôi dưỡng, thành công cụ của
chúng để đàn áp cách mạng và nhân dân là sự thật lịch sử không thể
nào quên, cho dù, trong bối cảnh mới, hoàn cảnh mới, đối thủ thù
địch trong quá khứ có thể trở thành đối tác cùng hợp tác, cùng
tồn tại. Vì vậy, chúng ta không cho phép bất cứ ai, dù với cương vị gì, “nhà
văn”, “nhà nghiên cứu”, “nhà biên khảo”,… được bóp méo, xuyên tạc giá trị của
Chiến thắng lịch sử này.
Nói tới Chiến thắng 30/4/1975 là để khêu
gợi lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc chân chính chứ không hề
làm đau đớn thêm vết thương do cuộc chiến tàn bạo của đế quốc Mỹ gây
ra, không phải làm phân ly thêm khối cộng đồng dân tộc bởi một sự cực
đoan ý thức hệ như có người lầm tưởng do thiếu hiểu biết. Dân tộc
Việt Nam nổi bật các đức tính anh hùng, bất khuất, bao dung, nhân ái,
trọng sự hòa hiếu, đoàn kết đồng thuận. Chính những đức tính mang
giá trị nhân văn và sâu sắc này cũng đã tạo nên sức mạnh của chiến
đấu và chiến thắng.
Ngày nay, đất nước ta đã đi qua chặng đường đổi mới gần 30 năm.
Chiến thắng giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc cũng đã gần 40
năm. Các thế hệ sinh thành trong bối cảnh ấy đã tận hưởng giá trị
của hòa bình, độc lập, tự do, hạnh phúc mà các thế hệ cha anh đã
phải hy sinh bằng máu của mình. Thế và lực của Việt Nam đang ở vào
thời kỳ sung sức đầy triển vọng. Đổi mới nhằm đạt tới “dân giàu,
nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” như tâm nguyện của Bác Hồ. Để
thực hiện được mục tiêu cao cả đó, hơn lúc nào hết dân chủ - đoàn
kết - đồng thuận là động lực cho sự phát triển của nước ta, cho dân
tộc Việt Nam vươn tới trình độ một dân tộc thông thái, xã hội Việt Nam
là một xã hội văn hóa cao. Cán bộ, đảng viên tích cực học tập, rèn luyện
theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; đẩy mạnh hơn nữa công cuộc xây
dựng, chỉnh đốn Đảng theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) để Đảng luôn xứng đáng với vai trò là người lãnh đạo.
Chiến thắng 30/4/1975 sẽ mãi mãi
tiếp thêm năng lượng, tinh thần, phát huy các giá trị sáng tạo, cổ
vũ nhân dân và dân tộc ta đi tới, hướng tới phát triển bền vững và
hiện đại hóa trong công cuộc đổi mới, trong sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc XHCN.
H.A
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét