Thứ Ba, 11 tháng 4, 2017

Chân lý: không phải bao giờ sức mạnh của cường quyền bạo lực và đồng tiền cũng đè bẹp được chính nghĩa.
Chiến thắng 30-4-1975 là thắng lợi của chính nghĩa trước bạo lực, cường quyền; là biểu tượng sáng ngời về ý chí bất khuất, khát vọng hòa bình, tự do của dân tộc Việt Nam và nhân loại tiến bộ. Đó là lịch sử, mà lịch sử chỉ hiện hữu sự thật, không thế lực thù địch nào có thể xuyên tạc.
Cuộc chiến tranh do Mỹ và tay sai tiến hành ở Việt Nam được cho là phi nghĩa, trái đạo lý, bị lên án không phải chỉ vì thực chất mục đích của nó, vì sự hao người, tốn của, mà còn bởi nó đã thể hiện rõ tính chất tàn bạo, vô nhân tính. Đó là một trong các cuộc chiến tranh tổn hại nhất trong lịch sử nước Mỹ, với tổng chi phí lên tới 686 tỉ đô la. Đó là khoản tiền lớn nhất mà Mỹ đã chi cho chiến tranh, chỉ sau đại chiến Thế giới thứ 2.
Theo Nguyễn Tiến Hưng - Tổng trưởng kế hoạch của Việt Nam Cộng hòa (giai đoạn 1973 - 1975): làn sóng viện trợ Mỹ trút vào miền Nam Việt Nam thời điểm dâng cao nhất kéo dài từ năm 1966 đến năm 1970 lên tới 25 tỉ đô la mỗi năm.
 Các chính sách của chế độ Sài Gòn đưa ra thường hay được tính toán dựa theo dự phỏng xem số tiền đô la được Mỹ sẽ bơm vào nền kinh tế là bao nhiêu, sự lệ thuộc của chế độ Sài Gòn vào Mỹ ở mức độ nào. Cùng với Quân đội Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn, có thời điểm còn có sự tham gia của quân đội 5 nước đồng minh trực tiếp và 29 nước khác gián tiếp với khoảng 6 triệu lượt binh sĩ tham chiến. Trong khoảng thời gian đó, Mỹ, ngụy đã tổ chức nhiều chiến dịch lùng sục, càn quét và thảm sát tại khắp nơi ở miền Nam; đồng thời, còn tiến hành 2 cuộc chiến tranh phá hoại bằng đường không ở miền Bắc, tàn phá nặng nề các công trình giao thông, kinh tế, trường học, bệnh viện… nhằm “đưa Việt Nam trở về thời kỳ đồ đá”.
Việt Nam đã trở thành bãi chiến trường để Mỹ phô diễn, thử nghiệm hầu hết các loại phương tiện, vũ khí chiến tranh; trong đó, có nhiều loại hiện đại, tối tân lần đầu tiên được sử dụng. Máy bay Mỹ đã ném xuống Việt Nam khoảng 7,85 triệu tấn bom, gấp 3 lần số bom sử dụng trong chiến tranh Thế giới 2; rải xuống khắp miền Nam Việt Nam khoảng 75 triệu lít chất độc hóa học đi-ô-xin, v.v.
Cuộc chiến tranh đã cướp đi nhiều triệu sinh mạng, nhưng số người thương vong, tàn tật, chịu di chứng trên nhiều mặt ở các bên tham chiến còn nhiều hơn gấp bội. Mỹ còn áp dụng cả những biện pháp tàn bạo mà các chuẩn mực chiến tranh thông thường không cho phép, như: sử dụng chất độc da cam/đi-ô-xin, dùng máy bay B52 ném bom dải thảm hủy diệt các khu dân cư tập trung, v.v.
Bên cạnh sinh mạng con người, hậu quả nghiêm trọng về chính trị, kinh tế, môi trường, phải mất nhiều thời gian, công sức mới khôi phục được. Điều đáng nói nhất là những di chứng về mặt xã hội đã gây ra sự chia rẽ sâu sắc, lâu dài trong lòng dân tộc Việt Nam và ngay cả trong lòng nước Mỹ. Sự hận thù, lòng tự ti, mặc cảm là những cản trở lớn cho sự hòa hợp dân tộc sau chiến tranh và cả những giọt nước mắt muộn màng về những tội ác của mình gây ra đối với đồng bào, dân tộc mình. Tất cả những điều đó là hậu quả của cuộc chiến tranh phi nghĩa mà Mỹ gây ra và là bài học cảnh tỉnh cho những ai còn có tư tưởng bá quyền, cho mình đứng trên các dân tộc khác.
Chiến thắng 30-4-1975 cho thấy một chân lý: không phải bao giờ sức mạnh của cường quyền bạo lực và đồng tiền cũng đè bẹp được chính nghĩa. Đấu tranh cho hòa bình, độc lập, thống nhất đất nước, Việt Nam là đại diện chân chính cho chính nghĩa, cho nên trong suốt cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu nước, nhân dân ta đã nhận được sự đồng tình ủng hộ to lớn cả về vật chất và tinh thần của bạn bè quốc tế và lực lượng tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới. Tính chất phi nghĩa, tàn bạo của Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn bộc lộ rõ trong chiến tranh, đã ngày càng bị thế giới, trong đó có cả nhân dân tiến bộ Mỹ lên án, phản đối.
Trong thời gian xảy ra chiến tranh, ở Mỹ đã có hơn 200 tổ chức chống chiến tranh, có 16 triệu trong tổng số 27 triệu thanh niên Mỹ đến tuổi quân dịch đã chống lệnh quân dịch, 75.000 người Mỹ bỏ ra nước ngoài vì, chống chiến tranh ở Việt Nam, không chịu nhập ngũ. Bản chất phụ thuộc theo đuôi Mỹ của chế độ Sài Gòn và mối quan hệ giữa họ cũng ngày càng được phơi bày. Nguyễn Văn Thiệu - người đứng đầu chế độ Sài Gòn - khi còn đương nhiệm đã công khai “lý tưởng” của chính quyền ông ta: “Mỹ còn viện trợ thì chúng ta còn chống Cộng”, “nếu Hoa Kỳ không viện trợ cho chúng tôi nữa thì không phải là một ngày, một tháng hay một năm mà chỉ sau 3 giờ chúng tôi sẽ rời khỏi Dinh Độc lập”.
Trước đó, để ép chính quyền Thiệu phải ký hiệp định Pa-ri (tháng 01-1973), R. Ních-xơn, Tổng thống Mỹ cũng từng trao đổi với thuộc cấp của mình rằng: “Tôi không biết sự đe dọa của chúng ta có đi quá xa không, nhưng tôi sẽ làm bất cứ điều gì, kể cả những điều không hay ho gì như cắt cái đầu của Thiệu”. Trong diễn văn từ chức vào thời điểm không thể cứu vãn nổi sự sụp đổ (ngày 21-4-1975), Nguyễn Văn Thiệu đã không tiếc lời chỉ trích Mỹ: “là một đồng minh thất hứa, thiếu công bằng, thiếu tín nghĩa, vô nhân đạo, trốn tránh trách nhiệm,...”. Những điều đó, thật khác xa với những gì mà trước đó họ thường rêu rao, tâng bốc nhau, mà không ít người lầm tưởng như họ là “đồng minh”, là đại diện của “chính nghĩa, quốc gia, dân tộc”.
Sau hơn 20 năm chiến tranh và 42 năm sau chiến tranh, sự thật và chân lý đã được lịch sử kiểm nghiệm, ánh sáng soi rọi. Những sự ngụy biện, xuyên tạc thực tế, nhằm phục vụ cho một mưu đồ nào đó, không những chỉ là ảo tưởng, mà còn là tội lỗi với lịch sử, với các thế hệ ông cha đã không tiếc máu xương hy sinh cho sự yên bình và hạnh phúc của đất nước này. Bất cứ dân tộc nào có tự trọng trên thế giới, đều có quyền tự hào về truyền thống lịch sử đánh giặc ngoại xâm, gìn giữ, bảo vệ Tổ quốc của mình. Chiến thắng 30-4-1975 đã kết thúc sự chia rẽ Bắc - Nam, chấm dứt vĩnh viễn ách thống trị kéo dài trên 100 năm của thực dân, đế quốc trên đất nước ta, nước nhà độc lập, non sông thu về một mối, đã trở thành một trang vàng chói lọi trong lịch sử hào hùng của dân tộc để các thế hệ hôm nay và mai sau gìn giữ và phát huy


H.A

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét