THÀNH TỰU NỔI BẬT TRONG QUAN HỆ VIỆT NAM
VỚI LIÊN HỢP QUỐC GIAI ĐOẠN 1997-2011
Trung Lập
Trong giai đoạn
1997-2000, LHQ dành ưu tiên cho các lĩnh vực xóa đói giảm nghèo và các chính
sách xã hội; cải cách và quản lý phát triển; quản lý môi trường và tài nguyên
thiên nhiên; và điều phối viện trợ, quản lý nhà nước và huy động nguồn lực.
Trong giai đoạn hợp
tác 2001-2005, LHQ có ba ưu tiên chính là thúc đẩy hơn nữa cải cách, xóa đói
giảm nghèo và phát triển bền vững. Theo đề nghị của Chính phủ Việt Nam, LHQ
chuyển mạnh hướng hỗ trợ kỹ thuật sang hỗ trợ các biện pháp cải cách về chính
sách và thể chế kinh tế, doanh nghiệp nhà nước, hành chính công, luật pháp, lập
kế hoạch đầu tư công, phát triển hệ thống ngân hàng, đồng thời mở rộng sang các
lĩnh vực khác phòng chống HIV/AIDS và các bệnh hiểm nghèo; hỗ trợ thực hiện quy
chế dân chủ cơ sở, thực hiện quyền bình đẳng nam nữ, tổ chức hàng năm Hội nghị
Nhóm tư vấn các nhà tài trợ v.v.. Những ưu tiên chính trong giai đoạn này là
thúc đẩy cải cách, tư vấn trong việc xây dựng mới hoặc sửa đổi nhiều bộ luật
quan trọng, xóa đói giảm nghèo, hỗ trợ thực hiện Chương trình 135, lồng ghép
với việc thực hiện Các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDGs), hỗ trợ trong
các nỗ lực bảo vệ thiên nhiên, nâng cao nhận thức của người dân về môi trường,
xây dựng chiến lược và chính sách, nâng cao năng lực quản lý tài nguyên thiên
nhiên, quản lý môi trường và đa dạng sinh học. Trong giai đoạn 2006-2011, viện
trợ của LHQ cho Việt Nam đạt trên 400 triệu USD.
Trong giai đoạn
2007-2011, thực hiện chính sách đối ngoại đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ
quốc tế, làm bạn với tất cả các nước, Việt Nam đã tranh thủ diễn đàn Liên hợp
quốc làm cở sở để tăng cường quan hệ với các tổ chức trong hệ thống Liên hợp
quốc, mở rộng quan hệ song phương và đa phương với các nước và tổ chức quốc tế.
Hoạt động nổi bật nhất trong giai đoạn này là Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc
nhiệm vụ làm Uỷ viên không thường trực HĐBA LHQ nhiệm kỳ
2008-2009. Đây là lần đầu tiên Việt Nam tham gia vào cơ quan quan
trọng nhất của Liên hợp quốc về hoà bình, an ninh quốc tế trong bối cảnh HĐBA
phải xử lý khối lượng công việc đồ sộ do xuất hiện nhiều vấn đề an ninh phức
tạp, thêm vào đó là những thách thức an ninh toàn cầu mới và tác động tiêu cực
của cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu trầm trọng nhất lịch sử thế
giới hiện đại.
Việt Nam tích cực
thương lượng và trở thành thành viên chính thức của Công ước Cấm Vũ khí Hoá học
(CWC) năm 1998, tham gia đàm phán và là một trong những nước đầu tiên ký Hiệp
ước Cấm Thử Hạt nhân Toàn diện (CTBT) năm 1996, tham gia và trở thành thành
viên của Hội nghị Giải trừ Quân bị (CD) năm 1996. Ngoài ra, ta sớm tham gia vào
quá trình chuẩn bị cho các Hội nghị lớn như Hội nghị Kiểm điểm NPT 2000, 2005,
2010; Hội nghị về chống buôn bán bất hợp pháp vũ khí nhỏ năm 2001, 2003...
Việt Nam cũng tham gia
đầy đủ và thực chất vào các cơ chế hoạch định chính sách của LHQ, như phục vụ
việc Việt Nam giữ chức Phó Chủ tịch ĐHĐ LHQ năm 1997, tham gia Hội đồng Kinh tế
Xã hội của Liên hợp quốc (ECOSOC) (1998-2000). Ta đã hoàn thành trước hạn 5/8
các Mục tiêu Thiên niên kỷ (MDG).
Việt Nam không chỉ
thực hiện tốt nhiệm vụ thu hút viện trợ của các tổ chức phát triển LHQ mà còn
chủ động xây dựng các hình thức hợp tác và tham gia vào các tổ chức này. Mô
hình hợp tác 3 bên (Việt Nam, FAO, Xê-nê-gan về trồng lúa) đã được mở rộng và
áp dụng rộng rãi, được coi là hình mẫu cho hợp tác Nam - Nam. Việt Nam cũng chủ
động tham gia sâu hơn vào hệ thống LHQ thông qua việc là thành viên Hội đồng
chấp hành UNDP/UNFPA (nhiệm kỳ 2000 - 2002), ECOSOC (1998 - 2000)… Trong giai
đoạn này, Việt Nam đã tích cực phối hợp với các tổ chức phát triển LHQ thực
hiện thí điểm sáng kiến “Một Liên hợp quốc”, được cộng đồng các nhà tài trợ
đánh giá cao.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét