những kết quả giành được trong cách mạng Tháng
Tám năm 1945 là luận cứ không thể phủ nhận THÀNH CÔNG đó của dân tộc ta
Nhìn lại lịch sử, thành
công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là kết quả của sự lãnh đạo sáng suốt của
Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, là thành quả của sự đoàn kết, đồng
lòng, nỗ lực vượt qua mọi khó khăn, thử thách, gian khổ, hy sinh của dân tộc. Đặc
biệt, thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là nhờ tư duy sắc sảo, nhạy
bén, sáng tạo, quyết đoán của Đảng, Bác Hồ trong xác định, lựa chọn thời cơ tiến
hành Tổng khởi nghĩa.
Trước
hết,
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 không phải là sai lầm lịch sử, mà nó nổ ra và
giành thắng lợi do Đảng Cộng sản Việt Nam mà đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã sáng suốt lựa chọn con đường giải phóng dân tộc một cách đúng đắn, phù hợp với
xu thế và điều kiện của Việt Nam.
Ngay từ khi bôn
ba tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định: “Muốn
cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng
vô sản”.
Năm 1858, khi thực dân Pháp xâm lược,
dân ta phải chịu cảnh nước mất, nhà tan, “một cổ hai tròng”, đói rách lầm than,
oằn lưng, tối mặt với sưu cao, thuế nặng, phu phen, tạp dịch. Hàng loạt cuộc khởi
nghĩa, phong trào đấu tranh cứu nước đã nổ ra nhưng tất cả đều bị dìm trong bể
máu. Phải đến khi Bác Hồ tìm ra con đường cách mạng vô sản và Đảng Cộng sản Việt
Nam ra đời mới sự chuyển biến. Quá trình đó người đã tìm thấy con đường
đúng đắn cho cách mạng Việt Nam. Chính người đã đưa, vận dụng chủ nghĩa Mác –
lênin vào điều kiện thực tiễn của nước ta. Minh chứng là cao trào
cách mạng 1930-1931 và 1936-1939. Đó là hai cuộc tổng diễn tập, chuẩn bị tiền đề
cho cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền tháng 8-1945 đó thực sự là những
“cuộc tổng diễn tập”, là tiền đề cho Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công.Vào đầu năm 1941, trước những chuyển biến
mau lẹ của tình hình trong nước và thế giới, Bác Hồ về nước và Người đã cùng
Trung ương Đảng kịp thời nắm bắt tình hình, đề ra chiến lược, sách lược, xây dựng
căn cứ địa, chuẩn bị lực lượng, đào tạo, huấn luyện cán bộ, tổ chức, động viên,
lãnh đạo toàn dân chớp thời cơ chín muồi giành chính quyền.Khi tình thế
và thời cơ cách mạng chín muồi, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát
lệnh Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước đúng thời cơ, vào thời điểm
thuận lợi nhất nên đã giành thắng lợi.
Rõ ràng, Cách mạng Tháng Tám nổ ra và
giành thắng lợi do Đảng Cộng sản Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
sáng suốt lựa chọn con đường giải phóng dân tộc đúng đắn. Chúng ta có sự diễn tập,
chuẩn bị kĩ càng, phát huy được sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn
dân tộc và quan trọng là dự đoán thời cơ chính xác, chớp thời cơ kịp thời để
phát động tổng khởi nghĩa thành công. Nếu điều kiện chín muồi đã đến mà không nắm
lấy thời cơ, chần chừ, chờ đợi địch đầu hàng, trao quyền độc lập thì cơ hội
ngàn vàng đó sẽ không bao giờ đến. Chính vì vậy, đó không phải là “sự ăn may”
như những gì các thế lực thù địch phản động bịa đặt, xuyên tạc.
Hai
là,
nếu không có Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nước ta không thể có cơ đồ, vị thế,
uy tín và tiềm lực như ngày nay; nhân dân ta không có được cuộc sống, dân chủ
và vị thế như hiện nay.
Trước Cách mạng
Tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam là một nước thuộc địa nửa phong kiến, nghèo
nàn và lạc hậu, không có tên trên bản đồ thế giới; trình độ dân trí thấp, với
95% dân số không biết viết, không biết đọc. Nạn đói năm 1945 do phát xít Nhật
gây ra đã cướp đi sinh mạng của hơn hai triệu người, bằng khoảng 10% dân số
của
cả nước tại thời điểm ấy.
Để khắc phục
ngay những khó khăn của đất nước. Ngay sau khi tuyên bố độc lập, ngày
03/9/1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu sáu nhiệm vụ cấp bách, trong đó cứu đói là nhiệm
vụ hàng đầu và phong trào “diệt giặc đói” được triển khai. Với khẩu hiệu “Tăng
gia sản xuất! Tăng gia sản xuất ngay! Tăng gia sản xuất nữa!”, “Không để một tấc
đất bỏ hoang”, “Tấc đất tấc vàng”... trở thành hành động của toàn Đảng, toàn
dân. Kết quả là, đến đầu năm 1946, sản lượng hoa màu tăng gấp bốn lần so với thời
kỳ Pháp thuộc. Giặc đói đã được đẩy lùi, tài chính bước đầu được gây dựng lại.
Chiến thắng giặc đói là một trong những thành tựu lớn đầu tiên của Nhà nước
cách mạng. Nó thể hiện tính ưu việt của chế độ mới, của chính quyền nhân dân,
góp phần củng cố khối liên minh công nông. Uy tín của Đảng và Chính phủ ngày
càng được nâng cao trong
quần chúng. Nhân dân càng thêm tin tưởng, gắn bó và quyết tâm bảo vệ chính quyền
cách mạng.
Đồng thời, Nhà
nước còn vận động toàn dân xây dựng nền văn hóa mới, nếp sống mới, xóa bỏ văn
hóa nô dịch của chế độ thực dân, phong kiến; phát triển phong trào bình dân học
vụ, chỉ trong vòng một năm, từ ngày 08/9/1945 đến ngày 08/9/1946, trên toàn quốc
đã tổ chức được 75.805 lớp học với hơn 97.664 giáo viên và đã xoá mù chữ cho
2.520.673 người. Tiếng Việt được chính thức dùng trong hệ thống trường học.
Công tác y tế, vệ sinh phòng bệnh cũng được quan tâm, v.v..
Những kết quả đó
cho thấy rằng nếu không có Cách mạng Tháng Tám năm 1945, không có sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mà đứng đầu là Chủ
tịch Hồ Chí Minh thì “giặc đói”, “giặc dốt” không thể bị đẩy lùi nhanh như vậy.
Nhìn lại 35 năm
thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đất nước ta đã đạt được những thành
tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm
trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả
về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất
nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày
nay.
Đây là niềm tự hào, là động lực, nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi
khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng
bộ; phát triển nhanh và bền vững đất nước.
Những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử kết tinh sức sáng tạo của Đảng
và nhân dân ta, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù
hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; khẳng định sự
lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng
Việt Nam.
Những thành tựu trên đã bác bỏ sự vu cáo, bịa đặt hòng chia rẽ khối đại
đoàn kết toàn dân tộc, cố tình phủ nhận những thành quả cách mạng mà chúng ta
đã đạt được.
Ba là, Cách mạng Tháng
Tám năm 1945 đã xóa bỏ sự thống trị của thực dân, phát xít và phong kiến, xây dựng
nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên trong lịch sử dân tộc.
Mục tiêu của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 màĐảng ta xácđịnhlà đánh đổ đế
quốc Pháp, phát xít Nhật và bọn phong kiến, tay sai, giành độc lập dân tộc hoàn
toàn, độc lập dân tộc thực sự để đi đến xây dựng một xã hội hoàn toàn ấm no, tự
do, hạnh phúc. Đó không phải là sự chuyển giao từ chế độ “vua trị” sang “đảng
trị” mà là sự thay đối về bản chất, từ chế độ “quân chủ phong kiến” sang chế độ
“dân chủ cộng hòa”, từ chế độ cai trị tàn bạo của thực dân, phong kiến sang chế
độ nhân dân làm chủ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, sự quản lý của Nhà nước
dân chủ nhân dân. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Cách mạng Tháng Tám đã giải
phóng đồng bào ta ra khỏi chế độ quân chủ chuyên chếvà xiềng xích thực dân”[1].
Đồng thời, đối với công cuộc xây dựng một chế độ xã hội mới, khác hẳn về chất
so với chế độ cũ (phong kiến, thực dân và đế quốc): “Cách mạng Tháng Tám đã xây dựng
cho nhân dân ta cái nền tảng Dân chủ Cộng hoà và thống nhất độc lập”[2].
Bốn
là,
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 không phải là nguyên nhân dẫn đến hai cuộc chiến
tranh đẫm máu ở Việt Nam.
Bởi lẽ, sau khi
nhân dân ta giành được chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chưa
được bao lâu, thì ngày 23/9/1945, thực dân Pháp quay trở lại cướp nước ta một lần
nữa. Trước tình thế đất nước “ngàn cân treo sợi tóc”, Chính phủ Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hiện nhiều chính sách để gìn
giữ hòa bình, tránh “cuộc chiến tranh đổ máu vô nghĩa”. Tuy “Chúng ta muốn hòa
bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp
càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa!”[3].
Với tinh thần “thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định
không chịu làm nô lệ”[4],
quân và dân ta đã trường kỳ kháng chiến và giành thắng lợi, làm nên mốc son Điện
Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, buộc Pháp phải ký Hiệp định
Giơnevơ tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt
Nam và các nước trên bán đảo Đông Dương. Song, với bản chất hiếu chiến, phản động,
thực dân Pháp đã cấu kết và “bật đèn xanh” cho đế quốc Mỹ nhảy vào xâm lược Việt
Nam và Đông Dương, buộc nhân dân ta phải tiếp tục bước vào cuộc trường chinh chống
Mỹ, cứu nước kéo dài 21 năm sau đó. Bằng đường lối lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt
và tinh thần đấu tranh anh dũng, kiên cường, bất khuất, bất chấp mọi gian khổ,
hy sinh của nhân dân ta, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta lần lượt đánh bại các chiến
lược chiến tranh tàn bạo của đế quốc Mỹ và ngụy quyền tay sai, giành nhiều thắng
lợi vẻ vang mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, kết thúc 30 năm chiến
tranh giải phóng dân tộc, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Như vậy, nguyên
nhân vừa sâu xa, vừa trực tiếp dẫn đến hai cuộc kháng chiến của nhân dân ta,
chính là bản chất hiếu chiến xâm lược của chủ nghĩa thực dân, đế quốc và bè lũ
tay sai chứ không phải một lý do nào khác, càng không phải do Cách mạng Tháng
Tám năm 1945.
NMT
[1]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà
Nội, 2011, t.4, tr. 435
[2]Hồ Chí Minh: Toàn
tập,
Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, t.5, tr 326
[3]Hồ Chí Minh: Toàn
tập, Nxb.
Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011 t.4, tr.534.
[4]Hồ Chí Minh: Toàn
tập,Nxb.
Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011 t.4, tr.534
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét