CÁC NƯỚC ỨNG DỤNG THÀNH TỰU CỦA CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ VÀO XÂY DỰNG
QUÂN ĐỘI
Mặt Trời
Gần đây, cụm từ “Cách
mạng công nghiệp thứ tư” hay còn gọi là “Cách mạng công nghiệp 4.0” xuất hiện khá nhiều và trở
thành thuật ngữ khá phổ biến trên các phương tiện thông tin, truyền thông. Cuộc
cách mạng này có sự tác động to lớn, ảnh hưởng sâu sắc, toàn diện đến mọi lĩnh
vực của đời sống xã hội trong đó có quá trình xây dựng Quân đội nhân dân Việt
Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Lịch sử hình thành và
phát triển của xã hội loài người đã trải qua 4 cuộc cách mạng công nghiệp và
các cuộc cách mạng này đã từng bước làm thay đổi bộ mặt của thế giới. Bởi vì,
mỗi cuộc cách mạng đều đặc trưng bằng sự thay đổi về bản chất của sản xuất và
sự thay đổi này được tạo ra bởi các đột phá của khoa học và công nghệ.
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ I
diễn ra khoảng nửa cuối thế kỷ XVIII (năm 1784) gắn với sự thay đổi từ sản xuất
bằng sức người, bằng chân tay sang sản xuất cơ khí do con người phát minh ra
động cơ hơi nước.
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ II
diễn ra từ nửa cuối thế kỷ XIX (năm 1870) gắn với sự ra đời của động cơ điện và
sự thay đổi từ sản xuất đơn lẻ sang sản xuất hàng loạt bằng máy móc chạy bằng
năng lượng điện.
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ III
bắt đầu diễn ra từ năm 1969 và phát triển mạnh trong những năm 70 của thế kỷ
XX, gắn với sự ra đời của sản xuất tự động dựa vào máy tính, thiết bị điện tử
và Internet.
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ IV
bắt đầu xuất hiện trên báo chí và các phương tiện truyền thông từ cuối năm 2013
và chính thức được sử dụng tại Diễn đàn kinh tế thế giới năm 2016. Đây là cuộc cách mạng về sản xuất thông minh
dựa trên những thành tựu đột phá trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, công
nghệ sinh học, công nghệ nano với nền tảng là các đột phá của công nghệ số. Về
cơ bản, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư dựa trên 3 trụ cột chính là: Thứ nhất là kỹ thuật số bao gồm dữ liệu
lớn, vạn vật kết nối Internet, trí tuệ nhân tạo. Thứ hai là công nghệ sinh học bao gồm những ứng dụng trong nông
nghiệp, thủy sản, y dược, chế biến thực phẩm, bảo vệ môi trường, năng lượng tái
tạo. Thứ ba là lĩnh vực vật lý, như
rôbốt thế hệ mới, in 3D, xe tự lái, các vật liệu mới, công nghệ nano… Cuộc cách
mạng công nghiệp lần thứ tư tác động rất sâu rộng đến các lĩnh vực ở mọi quốc
gia trên thế giới; báo trước sự chuyển đổi căn bản và đương nhiên có lĩnh vực
quân sự, xây dựng quân đội.
Phát
triển công nghiệp quốc phòng mới: Cách mạng
công nghiệp lần thứ IV làm cho ngành công nghiệp quốc phòng của các nước có
bước phát triển đột phá về chất lượng; giảm số lượng cơ sở chế tạo vũ khí trang
bị; hoạt động thiết kế, gia công, chế tạo vũ khí trang bị sẽ được tự động hóa,
rút ngắn thời gian; rôbốt sẽ thay công nhân trong những dây chuyền sản xuất.
Các nền công nghiệp quốc phòng lớn trên thế giới đang hướng tới sử dụng công
nghệ in 3D để nhanh chóng sản xuất linh kiện nguyên mẫu với sự giúp đỡ của các
mô hình thiết kế máy tính; giúp tiết kiệm thời gian và nguồn lực trong quá
trình sản xuất. Ví dụ Mỹ đã đầu tư một khoản kinh phí lớn cho việc in 3D quân
phục, các mẫu da nhân tạo giúp điều trị vết thương, thậm chí cả đồ ăn phục vụ
quân đội. Ngày 29/7/2017, Hải quân Mỹ đã phối hợp với phòng thí nghiệm quốc gia
sản xuất thành công một chiếc tàu ngầm bằng công nghệ in 3D chỉ trong vòng 4
tuần cho lực lượng đặc nhiệm SEALS; in 6 phần riêng biệt bằng sợi carbon và
ghép lại với nhau thành một tàu ngầm hoàn chỉnh dài 9,14m. Trong khi để sản
xuất một chiếc tàu tương tự với phương pháp thông thường sẽ mất ít nhất 3-5
tháng và chi phí khoảng 600.000 - 800.000USD; theo công nghệ in 3D này rẻ hơn
90%. Do là phiên bản thí nghiệm nên Hải quân Mỹ không tổ chức chạy thực nghiệm,
đến phiên bản thứ hai sẽ cho vận hành với các bài thử nghiệm thực tế trên biển
và mẫu tàu ngầm này sẽ được sản xuất hàng loạt vào năm 2019. Còn Nga thì đã bắt
đầu sử dụng công nghệ in 3D để sản xuất các linh kiện xe tăng thế hệ mới T-14.
Xây
dựng căn cứ quân sự thông minh: Cách mạng công nghiệp lần thứ IV sẽ
cho ra đời các căn cứ quân sự thông minh; được xây dựng bằng các máy móc tự
động phân tích dữ liệu, giúp tăng tốc và nâng cao chất lượng. Tất cả được kết
hợp lại để cùng thu thập và xử lý một lượng lớn dữ liệu, giúp các cấp chỉ huy
ra quyết định kịp thời và hợp lý hơn cho mọi hoạt động. Hiện nay, một số căn cứ
quân sự của Mỹ và một số nước châu Âu đã ứng dụng công nghệ thông minh theo
nhiều cách khác nhau. Ví dụ tại căn cứ của quân đội Mỹ ở
bang Georgia mới khánh thành nhà máy năng lượng mặt trời, cho phép căn cứ này
hoạt động độc lập với lưới điện địa phương. Còn căn cứ Fort Bragg ở Bắc bang
Carollin đang thử nghiệm các phương tiện vận chuyển không người lái để chuyển
thương binh, bệnh binh. Chất lượng cuộc sống của binh sĩ trong các căn cứ quân
sự thông minh được cải thiện đáng kể. Tại Ấn Độ, một ứng dụng công nghệ có tên
Tonbo Imaging cho phép phát hiện, tái tạo các hình ảnh vật thể trong bất kỳ
điều kiện môi trường nào; cho phép quân nhân thu được các thông tin tình báo có
ý nghĩa sống còn đối với các cơ sở quân sự và tính mạng của mình, đặc biệt là ở
khu vực biên giới.
Huấn
luyện quân sự:
Công
nghệ thực tế ảo đang được quân đội các nước trên thế giới sử dụng để huấn luyện
binh sĩ, mô phỏng các môi trường nguy hiểm, phức tạp hoặc cực kỳ tốn kém nếu huấn
luyện theo cách truyền thống. Nhờ khả năng vượt trội của dữ liệu lớn, các kịch
bản huấn luyện mô phỏng rất linh hoạt, từ các dữ liệu thu thập được trên hệ
thống giúp người chỉ huy liên tục đưa ra những tình huống huấn luyện sát với
thực tế, phù hợp với năng lực của binh sĩ và tính năng của vũ khí trang bị. Do
đó sẽ nâng cao hiệu quả huấn luyện trong khi không cần phải xây dựng các thao
trường, chọn địa điểm, xây dựng các công cụ phục vụ huấn luyện. Từ đó giảm được
đáng kể kinh phí, di chuyển phương tiện kỹ thuật và binh sĩ, giảm thời gian
chuẩn bị và thực hành huấn luyện, tránh được những rủi ro ngoài ý muốn.
Vũ
khí trang bị tự động, không người lái: Hiện nay, các phương tiện không
người lái được phát triển cả trên không, trên bộ, trên biển làm nhiệm vụ trinh
sát, giám sát, chỉ thị mục tiêu và tấn công. Tuy nhiên, năng lực của chúng vẫn
còn hạn chế. Trong tương lai, các robot sẽ có tư duy như con người, có khả năng
nhận biết, đánh giá tình hình và đưa ra quyết định, phối hợp với binh sĩ hoặc
tương tác với các robot khác thực hiện tất cả các nhiệm vụ, các công việc trong
chiến đấu. Việc trang bị các loại robot, các phương tiện không người lái thông
minh sẽ hạn chế tổn thất sinh mạng của binh sĩ. Theo Hiệp hội Quốc tế về robot
năm 2014, khoảng 11.000 robot phục vụ quân sự được sản xuất nhưng con số thực
tế có thể còn lớn hơn rất nhiều. Dự báo năm 2040 có khoảng 230.000 robot quân
sự và đến năm 2050 sẽ là khoảng 1.000.000 sản phẩm mỗi năm. Sự phát triển nhanh
chóng của các nghiên cứu về trí thông minh nhân tạo trong thời gian gần đây đã
dấy lên mối quan ngại thật sự trong giới khoa học quân sự về khả năng không
kiểm soát nổi.
Thay
đổi khẩu phần ăn của binh sĩ:
Chế
độ dinh dưỡng phù hợp với trọng lượng và sức khỏe của người lính luôn được các
đơn vị quân đội nghiên cứu kỹ. Trung tâm nghiên cứu phát triển và kỹ thuật quân
đội Mỹ (NSRDEC) đang nghiên cứu một phương pháp mới để bảo đảm khẩu phần ăn
đóng gói cho binh sĩ bằng cách sử dụng các thiết bị nhận biết gắn trên người
lính để dự đoán chính xác nhu cầu dinh dưỡng rồi truyền dữ liệu tới máy in 3D
thực phẩm là đã có một khẩu phần ăn phù hợp với người đó. Theo dự kiến, công
nghệ in 3D thực phẩm sẽ hoàn thành và được ứng dụng vào năm 2025, lúc đó, một
bữa ăn được hoàn thành chỉ mất vài phút so với hàng giờ như hiện nay, song vẫn
đầy đủ dinh dưỡng, không dư thừa, hợp khẩu vị và có hình thức đẹp./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét