CHIẾN TRANH NHÂN DÂN ĐẤT ĐỐI KHÔNG
TRONG CHIẾN DỊCH PHÒNG KHÔNG THÁNG 12 NĂM
1972
Mặt Trời
Cuối năm 1972 “Việt Nam hóa chiến tranh” bị phá sản;
sau những thất bại liên tiếp buộc Mỹ phải đàm phán Hiệp định về chấm dứt chiến
tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam với lộ trình ngày 20/10 ký tắt tại Hà Nội và
ngày 26/10 ký kết chính thức tại Pari. Tuy nhiên, Mỹ đã trì hoãn ký kết, kéo
dài thời gian, trên thực tế ngầm lên kế hoạch “trả đũa” bằng tập kích đường
không chiến lược “có một không hai”, sử dụng máy bay ném bom
chiến lược B52 mang mật danh “LainơblếchcơII”.
Theo đó, ngày 18/12/1972 bắt đầu tàn phá Bắc Việt Nam, gây sức ép buộc Việt Nam
phải hạ thấp một số điều khoản; trấn an chính quyền Sài Gòn và rút quân trên
thế mạnh. Đây là những cố gắng quân sự cuối cùng của Mỹ và để thực hiện Mỹ huy động tối đa sức mạnh của không quân bao gồm
gần 1/2 số máy bay B52 (193/400 chiếc,
thực tế xuất kích 663 lần chiếc), gần 1/3 số máy bay chiến thuật (999/3.041 chiếc, thực tế xuất kích 3.920
lần chiếc), 1/4 số tàu sân bay (6/24
chiếc) và nhiều máy bay tiếp dầu, gây nhiễu điện tử, trinh sát, chỉ huy,
dẫn đường, cấp cứu... lực lượng được huy động bằng tổng lực lượng không quân
của 3 nước mạnh nhất châu Âu thời điểm đó là Anh, Đức, Pháp cộng lại.
Khi
tiến hành cuộc tập kích, Mỹ tin
rằng sẽ dạy cho Bắc Việt Nam một bài học và một số báo chí Mỹ đã vội tung tin,
phác họa nên một bức tranh hãi hùng “Hà Nội sẽ là một khu vực chết, sẽ quay về
thời kỳ đồ đá cũ”… nhưng kết quả thì 81 máy bay các loại bị bắn hạ, trong đó có
34 chiếc B52 - mức độ tổn thất quá nặng chưa từng có. Trong khi B52 từng được “quảng bá” là siêu pháo
đài bay thượng đẳng bất khả chiến bại; là niềm kiêu hãnh của không lực Hoa Kỳ;
là sản phẩm hội tụ những thành tựu kỳ diệu nhất của nền công nghiệp hàng đầu
thế giới; là thứ vũ khí linh hoạt nhất trong bộ ba vũ khí chiến lược; nó trút
bom như mưa, tiếng bom xé nát không khí, gầm rít ghê rợn như dông bão. Một tốp
3 chiếc B52 có thể biến một khu vực rộng 2km2 thành bình địa; không một sinh vật nào có thể tồn tại nổi
dưới sức công phá ghê gớm của bom B52; đối
phương sẽ bị hủy diệt về quân sự, khiếp đảm về tinh thần vì họ cảm thấy hoàn
toàn bất lực trước sức mạnh tàn phá ghê gớm. Thắng lợi trong chiến dịch phòng không “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên
không” của Việt Nam là một minh chứng về sự toàn thắng của trí tuệ con người đối
vũ khí, phương tiện; thắng lợi của ý chí quyết tâm dám đánh, biết
đánh, quyết đánh thắng kẻ thù xâm lược và hơn tất cả đó là thắng lợi của sự kế thừa và phát triển nghệ thuật quân sự chiến tranh
nhân dân Việt Nam trong thời đại mới với hình thức mới - chiến tranh nhân dân đất đối không.
Một là, nghệ thuật tiến hành chiến
tranh nhân dân đất đối không đã phát triển mạnh, huy động mọi lực lượng, phương
tiện tạo thành lưới lửa phòng không dày đặc bắn máy bay Mỹ. Hà Nội
và cả Bắc Việt Nam đã phát huy được sức mạnh phòng không của toàn dân tạo nên
lưới lửa phòng không nhiều tầng, nhiều nấc. Từ xa đến gần, trên mọi tầng cao,
cả chính diện, bên sườn, phía sau máy bay Mỹ luôn bị hệ thống hỏa lực phòng
không dày đặc được ví như “rồng lửa Thăng Long” vây chặt. Hà Nội linh thiêng và
hào hoa trở thành “Thăng Long chiến địa”, là vùng chết của không quân Mỹ. Chính
Cơnoen - Tham mưu trưởng Không quân Mỹ thời đó thừa nhận “Lực lượng phòng không
của Bắc Việt là lực lượng đáng sợ nhất và hoàn chỉnh nhất mà phi công Mỹ chưa
bao giờ gặp phải”.
Còn thiếu tá phi công John Gaudeous, sau mấy lần thoát chết đã thốt lên “Bay
vào vùng châu thổ sông Hồng, chúng tôi đã gặp phải một lưới lửa nhiều tầng,
trên tất cả mọi độ cao. Bay thấp thì bị đạn cao xạ bắn; bay cao thì lại bị tên
lửa SAM2 và máy bay MIG truy đuổi”. Chẳng
thế mà trong chiến dịch “Bão táp sa mạc” năm 1991, Mỹ cũng sử dụng B52 oanh tạc
I rắc trong khi đó I rắc có hệ thống Rađa, tên lửa mạnh hơn Việt Nam vào thời
điểm năm 1972 nhiều lần nhưng I rắc không bắn hạ được chiếc B52 nào còn Việt Nam có hẳn bảo tàng chiến
thắng B52.
Hai là, nghệ thuật sử dụng lực lượng, bày binh bố trận, cơ động tác chiến theo
cách đánh thống nhất của chiến tranh nhân dân đất đối không đã phát huy cao nhất
khả năng chiến đấu của các lực lượng phương tiện. Việt
Nam đã tổ chức bố trí đội hình chiến đấu, các trận địa phòng không, các khẩu
đội một cách cơ động, linh hoạt, bất ngờ, từ mỏm núi, sườn đồi, ven làng, bìa
rừng đến nóc nhà cao tầng.… hình thành thế trận phòng
không nhân dân liên hoàn vững chắc, rộng khắp, nhiều tầng, đón đánh máy
bay Mỹ từ mọi hướng. Bộ đội cao xạ, các
đơn vị phòng không nhân dân và các tổ đội bộ binh đón lõng thì tập trung đánh
máy bay bay thấp tránh sự phát hiện của Rađa khi bổ nhào cắt bom, máy bay chiến
thuật... để bảo vệ những mục tiêu trọng yếu mặt đất. Các đơn vị tên lửa được ưu
tiên tiêu diệt pháo đài bay B52. Bộ
đội Rađa vượt qua mọi trở ngại, với
phương châm hành động “vạch nhiễu tìm thù” chỉ thị cho tên lửa và
MIC xuất kích đã trở thành “huyền thoại” trong đánh Mỹ. Không quân
với cách đánh du kích, dùng tốp nhỏ, chiếc lẻ quần lộn, xông thẳng vào đội hình
máy bay tiêm kích bảo vệ B52, buộc chúng phải quay ra đối phó, làm cho đội hình
bay rối loạn, cường độ nhiễu giảm, để lộ B52 tạo điều kiện cho tên lửa tiêu
diệt.
Ba là, nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân đất
đối không đã phát triển đến đỉnh cao với cao trào toàn dân bắn máy bay, bắt
giặc lái Mỹ, chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Để huy động sức
mạnh tổng hợp của nhân dân trong chiến tranh nhân dân đất đối không; bên cạnh việc tổ chức, bố trí đội hình
chiến đấu thống nhất, liên hoàn Việt Nam còn làm tốt công tác sơ tán, phòng
tránh; tổ chức tốt các đội bảo đảm, phục vụ chiến đấu rộng khắp. Nghệ thuật lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng
tránh, đánh trả trong cuộc đụng đầu lịch sử này luôn là nền tảng, là chỗ
dựa vững chắc cho thế trận phòng
không nhân dân đất đối không cũng như để các
lực lượng chiến đấu thắng lợi. Với phương châm “mỗi khu phố là một pháo đài,
mỗi người dân là một chiến sĩ” nên ngay cả trong tiếng đạn bom rung trời,
chuyển đất, trong khói lửa mịt mùng và đổ nát vẫn có những nam nữ thanh niên
tiếp đạn cho trận địa, tải thương, thay lá ngụy trang, khắc phục hậu quả do bom
đạn Mỹ gây ra; vẫn có các mẹ già tiếp tế đến từng khẩu đội, thăm hỏi, động
viên; vẫn có những y tá, dân phòng cứu thương, băng bó, chữa ngạt, chữa cháy.
Đó là những nam nữ nghệ sĩ văn công, tay đàn, tay sáo xuống từng trận địa, mang
lời ca tiếng hát phục vụ các chiến sĩ ngay bên mâm pháo nóng bỏng đạn bom. Là
những du kích cầm đèn, cầm đuốc hai bên đường băng thay cho đèn điện hướng dẫn
máy bay MIC cất hạ cánh trong đêm. Là những dân công không sợ hiểm nguy, xông
lên trong bom đạn san lấp các hố bom, sửa chữa đường băng, ụ pháo, trận địa…cho
tên lửa, đạn cao xạ vạch trời bay lên tìm diệt máy bay Mỹ. Là các nhà khoa học, cán bộ nhân viên kỹ thuật nhiều
lần cải tiến khí tài Rađa và tên lửa SAM2 để chống nhiễu, chống tên lửa của Mỹ,
góp phần không nhỏ nâng cao hiệu suất chiến đấu và hạn chế tổn thất. Là
biết bao cán bộ, công nhân viên thầm lặng bám trận địa, bám máy, bám đài, bám
bệnh viện, cửa hàng... để bảo đảm cho các nhu cầu thiết yếu về điện, nước, y
tế, lương thực, thực phẩm, thông tin liên lạc cho cuộc chiến đấu. Chỉ cần thấy
thấp thoáng những cánh dù bung ra, lập tức hàng chục, hàng trăm người từ các
hầm trú ẩn vọt ra, có cả những thiếu niên, cụ già, phụ nữ... kẻ gậy, người dao,
rầm rập kéo nhau đi như trẩy hội lùng bắt giặc lái Mỹ. Hà Nội và Bắc Việt Nam đã
huy động được sự đoàn kết, đồng lòng, sức mạnh của quân và dân trong chiến đấu
với kẻ thù. Tổ chức tốt hàng trăm đài quan sát từ xa đến gần, hệ thống thông
báo báo động bằng còi, kẻng, loa khắp các bản làng, thôn xóm, nhà máy, công
sở... ngụy trang, trồng cây xanh và đào công sự ven đường, dọc phố, xây dựng trận
địa giả nghi binh, sơ tán gần 30 vạn dân Hà Nội ra khỏi khu vực đánh phá trọng
điểm trong trật tự, an toàn. Đánh giá việc này, báo “Thế giới” của Pháp viết
“Đối diện với quân đội Mỹ là cả một dân tộc kiên quyết như núi đá, một tinh
thần dũng cảm vô song không hề biết sợ trước bất kể kẻ thù nào”. Bộ trưởng Quốc
phòng Mỹ MắcNamara cũng phải thừa nhận “Những cuộc ném bom hủy diệt của Mỹ đã
không thể nào tiêu diệt được ý chí của cả một dân tộc”. Còn Giôrít Ivan, đạo
diễn điện ảnh nổi tiếng của Hà Lan thì nhận xét “Đã từng chứng kiến nhiều cuộc
chiến tranh, nhưng tôi chưa thấy ở nơi nào trên thế giới mà cả dân tộc kết
thành một khối cùng đánh giặc như ở Việt Nam”. Đây chính là nghệ thuật lãnh
đạo, chỉ đạo, huy động sức mạnh tổng hợp
của chiến tranh nhân dân đất đối
không, dám đánh, biết đánh, quyết đánh thắng, không chịu khuất phục
trước B52./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét