HIỆP ĐỊNH PARI (27/01/1973) - BƯỚC NGOẶT
TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG ĐẾ QUỐC MỸ
CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
Mặt
Trời
Hiệp định Pari là một bước ngoặt
quan trọng trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ của dân tộc Việt Nam, là hiệp
định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam trên cơ sở tôn trọng các
quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam và quyền tự quyết của nhân dân miền
Nam. Đây là cơ sở để tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất
nước, góp phần củng cố hòa bình ở châu Á và thế giới. Hiệp định do 4 bên tham
chiến là Hoa Kỳ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Việt
Nam Cộng hòa ký kết tại Pari ngày 27 tháng 01 năm 1973.
Bị thất
bại ở cả hai miền Nam và Bắc của Việt Nam, đặc biệt thất bại nặng nề trong
chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” nên Mỹ đã buộc phải ngồi vào bàn đàn phán
với Việt Nam ở Hội nghị Pari từ ngày 13 tháng 5 năm 1968 để bàn về việc chấm
dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Đến ngày 25 tháng 01 năm 1969 bắt
đầu hội nghị 4 bên. Đến tháng 10 năm 1972, khi Mỹ chuẩn bị bước vào cuộc bầu cử
Tổng thống, bản dự thảo Hiệp định Pari được hoàn tất và các bên đã thỏa thuận
ngày ký chính thức. Tuy nhiên, Mỹ đã gây sức ép bằng cách mở cuộc tập kích bằng
máy bay B52 vào Hà Nội và Hải Phòng cuối năm 1972 để buộc Việt Nam phải nhân
nhượng. Nhưng với sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự đoàn
kết của nhân dân cả nước, nhân dân ta đã đánh bại âm mưu của kẻ thù, buộc chúng
phải ký Hiệp định Pari ngày 27 tháng 01 năm 1973.
Hiệp định Pari gồm 9 chương.
Chương I: Các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam; chương II: Chấm dứt chiến
sự, rút quân; chương III: Việc trao trả nhân viên quân sự bị bắt, thường dân
nước ngoài bị bắt và nhân viên dân sự Việt Nam bị bắt và giam giữ; chương IV: Việc
thực hiện quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam; chương V: Vấn đề thống
nhất nước Việt Nam và vấn đề quan hệ giữa miền Bắc và miền Nam Việt Nam; chương
VI: Các ban liên hợp quân sự, ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát, hội nghị
quốc tế; chương VII: Đối với Campuchia và Lào; chương VIII: Quan hệ giữa Hoa Kỳ
và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; chương IX: Những điều khoản khác.
Như vậy, Hiệp định được ký kết
với những nội dung cơ bản: Thứ nhất, Hoa Kỳ và các nước cam kết tôn
trọng độc lập, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Thứ
hai, hai bên ngừng bắn ở miền Nam lúc 24 giờ ngày 27/01/1973 và Hoa Kỳ cam
kết chấm dứt mọi hoạt động chống phá miền Bắc Việt Nam. Thứ ba, Hoa Kỳ
rút hết quân đội và quân đồng minh trong vòng 60 ngày kể từ khi ký Hiệp định,
hủy bỏ các căn cứ quân sự, cam kết không tiếp tục can thiệp vào nội bộ của miền
Nam Việt Nam. Thứ tư, nhân dân miền Nam tự quyết định tương lai chính
trị thông qua Tổng tuyển cử tự do. Thứ năm, hai bên Nam - Bắc Việt Nam
sẽ thương lượng về việc thống nhất đất nước, không có sự can thiệp của nước
ngoài. Thứ sáu, các bên công nhận thực tế miền Nam Việt Nam có 2 chính
quyền, 2 quân đội, 2 vùng kiểm soát và 3 lực lượng chính trị (lực lượng cách
mạng, lực lượng hòa bình trung lập và lực lượng chính quyền Sài Gòn). Thứ
bảy, hai bên ngừng bắn, trao trả tù binh và dân thường bị bắt. Thứ tám,
Hoa Kỳ cam kết góp phần vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh ở Việt Nam và
Đông Dương, tiến tới thiết lập quan hệ mới, bình đẳng và cùng có lợi giữa hai
nước.
Hiệp định
Pari được ký kết là kết quả của cuộc đấu tranh lâu dài của nhân nhân Việt Nam
trong suốt giai đoạn từ năm 1965 đến năm 1973 với ý chí bảo vệ độc lập chủ
quyền của dân tộc và tinh thần đoàn kết quốc tế. Hiệp định là thắng lợi tổng
hợp của cuộc đấu tranh trên các mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao, ghi
nhận các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, buộc Mỹ phải rút quân về
nước, tạo điều kiện tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất
nước. Đây là bước ngoặt quan trọng trong lịch sử dân tộc Việt Nam để tiến tới
thắng lợi năm 1975, cả nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập, tự do,
đi lên chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi của Hiệp định đã góp phần to lớn vào sự
nghiệp giải phóng của nhân dân Lào và Campuchia, đồng thời mở ra cục diện mới ở
Đông Nam Á, tăng cường xu thế hòa bình trong khu vực. Với những ý nghĩa đó,
hiệp định Pari còn nguyên ý nghĩa và giá trị thời sự rất thiết thực trong giai
đoạn hiện nay./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét