NHỮNG
CƠ SỞ LỊCH SỬ VÀ PHÁP LÝ CHỨNG MINH
HAI
QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA LÀ CỦA VIỆT NAM
Từ thế kỷ XVII, Việt
Nam đã xác lập, thực hiện chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
khi đó hai quần đảo này còn là lãnh thổ vô chủ, thực hiện chủ quyền đối với hai
quần đảo một cách hòa bình, liên tục và không gặp phải sự phản đối của bất cứ
quốc gia nào.
Tại Việt Nam và các nước
trên thế giới còn lưu giữ nhiều tư liệu, sách cổ, văn bản pháp lý của nhà nước,
bản đồ thể hiện việc thực thi chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng
Sa và Trường Sa như: Toản tập Thiên Nam tứ
chí lộ đồ thư của Đỗ Bá, tự Công Đạo (1868); Phủ biên tạp lục của Lê Quí Đôn biên doạn năm 1776; Lịch triều hiến chương loại chí của Phan
Huy Chú (1821); Hoàng Việt địa dư chí
(1833); Đại Nam thực lục tiền biên
(1844-1848); Đại Nam thực lục chính biên
(1844-1848); Việt sử cương giám khảo lược
(1876); Đại Nam nhất thống chí
(1882); Dư địa chí Khâm định Đại Nam Hội
điển sự lệ (1910); Quốc triều chính
biên toát yếu (1910); An Nam đại quốc
họa đồ của giám mục người Pháp Louis Taberd, Đại Nam nhất thống toàn đồ (bản đồ chính thức của triều Minh Mạng)…
Trong lời chú giải trên
bản đồ có nói rõ việc khai thác “Bãi Cát Vàng”[1]
của Chúa Nguyễn như sau: “… Giữa biển có
một dải cát dài, gọi là Bãi Cát Vàng, dài độ 400 dặm, rộng 20 dặm, đứng dựng giữa
biển, từ cửa biển Đại Chiêm[2]
đến cửa Sa Vinh[3].
Mỗi lần có gió Tây Nam thì thương thuyền các nước đi ở phía trong trôi dạt ở đấy;
có gió Đông Bắc thì thương thuyền chạy ở ngoài cũng trôi dạt ở đấy, đều cùng chết
đói hết cả, hàng hóa thì đều để nơi đó. Họ Nguyễn mỗi năm vào tháng cuối mùa
đông đưa 18 chiếc thuyền đến lấy hàng hóa, được phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ,
súng đạn…”
Trong
Phủ biên tạp lục, Lê Quí Đôn mưu tả tình hình địa lý, tài nguyên ở Hoàng Sa và
Trường Sa và công việc khai thác của Chúa Nguyễn đối với hai quần đảo này,
trong đó có đoạn viết như sau: “… Phủ Quảng
Ngãi, ở ngoài cửa biển xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn có núi gọi là cù lao Ré, rộng
hơn 30 dặm, trước có phường Tứ Chính, dân cư trồng đậu ra biển bốn canh thì đến;
phía ngoài nữa, lại có đảo Đại Trường Sa, trước kia có nhiều hải vật và những
hóa vật của tàu, lập đội Hoàng Sa[4]
để lấy, đi ba ngày đêm thì mới đến, là chỗ gần Bắc Hải…”
Bản
đồ Việt Nam kèm trong cuốn Từ điển La tinh – Việt Nam của giám mục người Pháp
Jean Louis Taberd xuất bản năm 1838 ghi rõ: “Paracel hay Cát Vàng” (Paracel seu
Cát Vàng), tức quần đảo Hoàng Sa hiện nay.
Đại
Nam nhất thống toàn đồ là bản đồ nước Việt Nam thời Nguyễn, dưới thời vua Minh
Mạng. Trên bản đồ có ghi hai tên “Hoàng Sa” Và “Vạn lý Trường Sa” thuộc lãnh thổ
Việt Nam. Ngoài khơi bờ biển từ Quảng Ngãi đến Khánh Hòa là “Hoàng Sa” và “Vạn
lý Trường Sa”.
Các
Châu bản triều Nguyễn là các văn bản hành chính chính thức của triều đình nhà
Nguyễn (thế kỷ XVII – XVIII) có dấu son của Vua, là bằng chứng lịch sử khẳng định
việc Nhà nước phong kiến Việt Nam đã xác lập và triển khai nhiều hoạt động thực
thi chủ quyền đối với hai quần đảo như hàng năm cử các đội Hoàng Sa kiêm quản đội
Bắc Hải ra hai quần đảo khai thác các tài nguyên sản vật trên biển và thu lượn
hàng hóa trên các tàu bị đắm; đo đạc vẽ bản đồ; dựng bia lập miếu, trồng cây; cứu
trợ các tàu thuyền nước ngoài gặp nạn…
Tờ
tấu của Quan Bố chính sứ tỉnh Quảng Ngãi gửi ngày 19 tháng 7 năm Minh Mạng thứ
19 (1838), tấu trình về việc xin miễn trừ các hạng thuế thuê thuyền đi lo liệu
việc công ở Hoàng Sa theo lệnh của vua Minh Mạng. Tờ tấu được vua Minh Mạng phê
điểm bằng bút son.
Từ
cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, Pháp đã nhân danh Việt Nam tiếp tục thực thi
chủ quyền và quản lý hữu hiệu hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đồng thời phản
đối yêu sách của các nước khác đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Từ những
năm 30 của thế kỷ XX, Pháp đã quy thuộc hai quần đảo vào các tỉnh đất liền, đặt
quân đồn trú, xây dựng cột mốc chủ quyền, xây hải đăng, trạm khí tượng, trạm vô
tuyến điện trên hai quần đảo.
Chủ
quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng đã được thừa
nhận tại Hội nghị hòa bình Francisco tháng 9 năm 1951 – Hội nghị giải quyết vấn
đề qui thuộc các vùng lãnh thổ sau chiến tranh thế giới thứ 2 với sự tham dự của
51 quốc gia. Với tư cách là thành viên của khối Liên hiệp Pháp, Thủ tướng Quốc
gia Việt Nam Trần Văn Hữu đã tham dự Hội nghị trên cương vị Trưởng phái đoàn Quốc
gia Việt Nam. Ngày 07 tháng 9 năm 1951, phát biểu tại Hội nghị, Trưởng phái
đoàn Quốc gia Việt Nam, Thủ tướng Trần Văn Hữu khẳng định chủ quyền của Việt
Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ông Trần Văn Hữu phát biểu: “Chúng tôi cũng sẽ trình bày ngay tại đây những
quan điểm mà chúng tôi yêu cầu Hội nghị ghi nhận… Và cũng vì cần phải dứt khoát
lợi dụng tất cả mọi cơ hội để dập tắt những mầm mống các tranh chấp sau này,
chúng tôi khẳng định chủ quyền đã có từ lâu đời của Việt Nam trên các quần đảo
Trường Sa và Hoàng Sa”. Cả 50 quốc gia tham dự còn lại đều không phản đối
Tuyên bố xác nhận chủ quyền đó của Phái đoàn Việt Nam.
Tháng
10 năm 1950, Pháp đã chuyển giao toàn quyền quản lý hai quần đảo cho Quốc gia
Việt Nam. Sau khi ký Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, Pháp đã chuyển giao hoàn
toàn quyền kiểm soát về quân sự và dân sự đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường
Sa cho chính quyền Sài Gòn. Chính quyền sài Gòn đã chiếm hữu thực sự và thực
thi chủ quyền đối với hai quần đảo này. Sau năm 1975, nước Việt Nam thống nhất,
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quản lý các đảo ở Trường Sa và luôn
khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa.
Quần
đảo Hoàng Sa của Việt Nam đã bị Trung Quốc đánh chiếm bằng vũ lực vào các năm
1956 và 1974; một số bãi ở quần đảo Trường Sa của Việt Nam bị Trung Quốc đánh
chiếm bằng vũ lực vào năm 1988. Việc Trung Quốc sử dụng vũ lực để chiếm đóng
các vị trí trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam không thể tạo ra chủ
quyền cho Trung Quốc và vi phạm nghiêm trọng Hiến chương Liên Hợp Quốc và các
chuẩn mực của luật pháp quốc tế.
Theo luật pháp quốc tế
về thụ đắc lãnh thổ, một quốc gia được coi là đã xác lập được chủ quyền đối với
một vùng đất vô chủ khi quốc gia đó đã thực sự chiếm hữu, thưc thi, quản lý và
khai thác lãnh thổ đó với tư cách Nhà nước một cách công khai, liên tục, hòa
bình. Việc Việt Nam xác lập, thực thi chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa là hoàn toàn phù hợp với các qui định này của luật pháp quốc tế.
BÀN LUẬN
[1] Đến thế kỷ XVII, bản đồ Việt Nam
gọi hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa bằng tên chung là Bãi Cát Vàng và ghi nó
vào đại hạt huyện Bình Sơn, phủ Quảng Ngĩa. Ngoài ra, Bãi cát Vàng còn được gọi
bằng nhiều tên khác như: Hoàng Sa, Cồn Vàng, Trường Sa, Đại Hoàng sa, Đại Trường
Sa, Vạn lý Trường Sa…
[2]
Cửa Đại Chiêm nay là cửa Đại, thuộc tỉnh Quảng Nam.
[3] Cửa Sa Vinh nay là cửa Sa Huỳnh,
thuộc tỉnh Quảng Ngãi.
[4] Trong các bản đồ và tài liệu nhiều
thế kỷ trước đây, hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa thường được gộp thành một
và có tên chung là Hoàng sa hoặc Đại Trường Sa hoặc Vạn lý Trường sa.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét