MỘT SỐ KẾT QUẢ NỔI BẬT TRONG QUAN HỆ
VIỆT NAM – CAMPUCHIA TRONG THỜI GIAN GẦN ĐÂY
a.
Về chính trị, đối ngoại
Quan hệ láng giềng Việt Nam - Campuchia gần đây
ngày càng phát triển sâu rộng, đi vào thực chất và có hiệu quả dựa trên phương
châm “láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững
lâu dài”. Hai
bên tiếp tục duy trì trao đổi cấp cao Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội cũng như giữa các bộ, ngành,
địa phương và giao lưu nhân dân, nhất là các tỉnh có chung biên giới ngày càng cởi mở, chân tình, tin cậy, gắn bó.
Nhiều lãnh đạo cấp cao của Việt Nam sang thăm
Campuchia như: Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (năm 2011, 2017), Thủ tướng
Nguyễn Tấn Dũng (năm 2012, 2014), Chủ tịch nước Trương Tấn Sang (năm 2014), Chủ tịch
nước Trần Đại Quang (năm 2016), Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân (năm
2016), Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc (năm 2017). Các nhà lãnh đạo Campuchia sang thăm Việt Nam như: Quốc vương Nô-rô-đôm
Si-ha-mo-ni (năm 2012), Thủ tướng Hun-Xen (năm 2012, 2016), Chủ tịch Quốc hội Hêng-Sam-rin (năm
2012)... Qua các chuyến
thăm, lãnh đạo cấp cao hai nước đều khẳng định quyết tâm cùng nhau vun đắp cho
mối quan hệ đoàn kết, hữu nghị truyền thống, hợp tác tốt đẹp giữa hai nước, hai dân tộc.
Cọi đây là nhân tố quan trọng đảm bảo thắng lợi cho sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của mỗi nước, tạo động lực thúc đẩy
mạnh mẽ hơn nữa quan, hệ giữa hai quốc gia.
Đặc biệt, nhân dịp kỷ niệm “40 năm con đường cứu nước
của Thủ tướng Hun-Xen” và “50 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam -
Campuchia (24/6/1967 - 24/6/2017)”, Thủ tướng Hun-Xen cùng Đoàn đại biểu cấp cao Chính phủ Vương quổc Campuchia
đã có chuyến thăm lại chiến trường xưa trên đất Việt Nam, để lại nhiều tình cảm sâu đậm. Tại đây,
Thủ tướng
Hun-Xen đã ca ngợi tình đoàn kết, hữu nghị gắn bó giữa nhân dân hai nước, đặc biệt là sự giúp đỡ vô tư, trong
sáng, đầy tình đồng chí, anh em của Đảng, Nhà
nước, Chính phủ và Quân đội nhân dân Việt Nam đối với nhân dân Campuchia trong
công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, đưa đất nước Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng
Pôn Pốt, hồi sinh mạnh mẽ, mang lại đòi sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.
b.
Về quốc phòng, an ninh
Đây là điểm sáng, là trụ cột trong quan hệ giữa hai nước. Điểm nổi bật là
việc duy trì
có hiệu quả cơ chế đối thoại chính sách quốc phòng luân phiên hàng năm cấp Thứ trưởng. Ta giúp bạn huấn luyện
quân sự, công tác bảo đảm hậu cần, kỹ thuật, hệ thông viễn thông...; trong đó hợp tác đào tạo
nguồn nhân lực có ý nghĩa chiến lược, tạo dựng cơ sở chính trị,
tinh thần gắn bó giữa hai quân đội. Giúp bạn xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo...Phối hợp tuyên
truyền về quan hệ hữu nghị truyền thống; tìm kiếm, quy tập, hồi hương hài cốt liệt sĩ quân tình nguyện,
chuyên gia quân sự Việt Nam; sửa chữa, tu bổ, tôn tạo, xây dựng đài Hữu nghị Việt Nam - Campuchia tại
Camphuchia. Tăng cường tổ chức các hoạt động giao lưu, kết nghĩa, duy trì “đường dây nóng”, tuần tra chung, đấu
tranh phòng chống tội phạm xuyên quốc gia, xâm canh, xâm cư, vượt biên trái phép; giải quyết các vấn đề
nảy sinh, xây dựng củng
cố, quản lí, bảo vệ đường biên giới, vành đai an ninh hòa
bình tương đối ổn định, giữ vững chủ quyền quốc gia, trật tự an toàn khu vực biện
giới, vùng nước lịch sử và vùng biển giáp ranh. Một số doanh nghiệp kinh tế,
quốc phòng Việt Nam tại Caitipuchi góp phần quan trọng phát triển kinh tế, tạo thế đứng
chân vững chắc trên địa bàn chiến lược. Hợp tác quốc phòng, an ninh đa phương
và khu vực được đẩy mạnh góp phần bảo vệ, giữ vững an ninh chính trị, trật tự
an toàn xã hội, phòng ngừa, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn phá hoại, chia rẽ quan hệ hai nước, hai quân
đội, chống phá Campuchia và Việt Nam;
c.
Về kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật
Về hợp tác kinh
tế, thương mại và đầu tư, hai bên thực hiện cơ chế mở cửa thông thoáng và đạt
nhiều kết quả tích cực, Kim ngạch thương mại hai chiều hằng năm đạt khoảng 3,3 tỷ
USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Campuchla đạt khoảng 1,8 tỷ
USD. Tại cuộc họp lần thứ 15 ủy ban Hỗn họp về hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học, kỹ
thuật giữa hai nước (15/3/2017) hai bên đã nhất trí phấn đấu đưa kim ngạch thương
mại song phương
đạt 5 tỷ USD. Tính đến tháng 4/2017, Việt Nam có 190 đự án, tổng số vốn đăng ký
2,89 tỷ USD, là nhà đầu tư lớn
thứ 5 (sau Trung Quốc, Hàn Quốc, EU và Malaixia) trong tổng số 50 quốc
gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Campuchia. Campuchia có 12 dự án còn hiệu lực đầu tư vào Việt Nam với
tổng sổ vốn đăng ký hơn 54 triệu USD, đứng thứ 49 trong tồng số 103 quốc gia vả
vùng lãnh thố có hoạt động đầu tự tại Việt Nam.
Về đào tạo, phát triển nguồn nhân lực,
được hai Đảng, hai Nhà nước đặc biệt quan tâm, coi đây là vấn đề trọng
yếu có tầm chiến lược, nhằm hình thành một đội ngũ cán bộ hiểu biết lẫn nhau gỉữa các ngành, các lĩnh vực, làm
nòng cốt trong
duy trì và thúc đẩy mối quan hệ hữu nghị của hai nước. Hằng năm, Việt Nam cấp
cho Camphuchia hơn 1.000 suất học bổng; tính đến quý I năm 2017, có gần 4.000 sinh viên Campuchia đang học
tập và nghiên cứu tại Việt Nam. Cùng với đó, hai bên cũng nhất trí tăng cường
hợp tác trên các lĩnh vực văn hóa, y tế, du lịch, an sinh xã hội. Tiêu biểu là,
Campuchia thường xuyên tham gia các Festival nghệ thuật tại Việt Nam; ta đã tổ
chức các Tuần Văn hóa Việt Nam tại Campuchia; khánh thành Bệnh viện Chợ Rẫy - Phnom Pênh (năm 2014);
khánh thành cầu Long Bình - Chray Thom (tháng 4/2017) bắc qua sông biên giới nối liền tỉnh An Giang, Việt Nam với
Can-đan, Campuchia... Đây là những biểu tượng trong sáng và cao cả của tình hữu nghị thủy
chung, hợp tác hiệu quả giữa hai nước, phục vụ thiết thực cho phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy giao lưu, thương mại, nâng cao đời sống
nhân dân, tăng cường kết nối giữa Việt Nam và Campuchia cũng như với các nước trong khu
vực
TRUNG LẬP
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét