Ý NGHĨA NGÀY
THÀNH LẬP CÔNG AN NHÂN DÂN VIỆT NAM
Mặt
Trời
Ngay từ khi ra đời và trong suốt quá trình
lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta thường xuyên quan tâm xây dựng, củng cố
các công cụ bạo lực của cách mạng để trấn áp tội phạm, bảo vệ Đảng, Nhà nước và
Nhân dân. Trong cao trào Xô - viết Nghệ Tĩnh (1930 - 1931), Đội tự vệ đỏ được
thành lập để hỗ trợ và bảo vệ quần chúng nổi dậy phá nhà giam, đốt huyện đường,
vây đồn lính, bắt giữ bọn hào lý, làm tan rã từng mảng chính quyền tay sai của
đế quốc ở cơ sở, bảo vệ cán bộ, bảo vệ các phiên tòa của Xô - viết, Công nông
xét xử bọn phản cách mạng; giữ gìn an ninh trật tự ở những nơi có chính quyền
Xô - viết.
Tháng 3/1935, Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ nhất thông qua Nghị quyết quan trọng về “Đội tự vệ”, khi cuộc vận
động mặt trận dân chủ Đông Dương phát triển thành cao trào cách mạng rộng lớn,
Đảng chỉ thị mỗi ấp phải tổ chức ra đội tự vệ để ngăn cản những kẻ phá rối cuộc
đấu tranh và đối phó với các lực lượng phản động. Đầu năm 1940, Trung ương Đảng
chủ trương thành lập Ban công tác đội làm nhiệm vụ bảo vệ an toàn khu, bảo vệ
cán bộ cao cấp của Đảng, giải thoát cho cán bộ khi bị địch bắt. Ban công tác
đội đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của trung ương, được trang bị vũ khí và huấn
luyện về kỹ thuật chiến đấu.
Ngày 15/5/1945, Xứ ủy
Bắc kỳ thành lập “Đội danh dự trừ gian” do Xứ ủy trực tiếp chỉ đạo, thực hiện
nhiệm vụ diệt trừ bọn Việt gian đầu sỏ và vũ trang tuyên truyền, chiến đấu khi
cần thiết.
Ngày 4/6/1945, Tổng
bộ Việt Minh tuyên bố thành lập khu giải phóng; đồng thời, công bố 10 chính
sách lớn của Việt Minh. Ngay sau đó các tổ chức “Đội trinh sát”, “Đội Hộ lương
diệt ác” lần lượt ra đời cùng với “Đội tự vệ đỏ”, “Ban công tác đội” và “đội
danh dự trừ gian” làm nhiệm vụ thủ tiêu lực lượng của phát xít Nhật, trừ khử
bọn Việt gian, trừng trị bọn lưu manh, bảo vệ chính quyền cách mạng, thực hiện
10 chính sách lớn của Việt Minh. Đây chính là các tổ chức tiền thân của Công an
nhân dân Việt Nam.
Ngày 19/8/1945, cuộc
Tổng khởi nghĩa giành thắng lợi ở Hà Nội và các tỉnh ở Bắc Bộ. Cùng với việc
đập tan các cơ quan đàn áp của địch và thiết lập chính quyền cách mạng, ở các
tỉnh Bắc Bộ đã lập sở Liêm phóng, Trung Bộ lập sở Trinh sát, Nam Bộ lập Quốc
gia tự vệ cuộc. Tuy tên gọi ở ba miền khác nhau, nhưng các tổ chức này đều có
chung nhiệm vụ trấn áp phản cách mạng, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân
dân. Đây cũng chính là các tổ chức tiền thân của Công an nhân dân Việt Nam.
Ngày 21/02/1946, Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 23/SL hợp nhất các lực
lượng này thành một lực lượng công an nhân dân ở cả ba miền được thống nhất một
tên gọi thống nhất là Công an có
nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn xã hội; thành lập Việt Nam Công an Vụ để
quản lý lực lượng công an nhân dân do một Giám đốc đứng đầu, mà người đầu tiên là Lê Giản.
Trong thời kỳ đầu, cơ quan quản lý ngành Công an là Nha Công an vụ, trực thuộc Bộ Nội vụ.
Ngày 16/02/1953, thành lập thành Thứ bộ Công an trực thuộc Bộ Nội vụ, đứng
đầu là một Thứ trưởng. Đến năm 1955, thì tách hẳn thành Bộ Công an. Năm 1959, sáp nhập các lực
lượng biên phòng thành lực lượng Công an vũ trang (nay là lực lượng Biên phòng) trực thuộc
quyền quản lý của Bộ Công an (về sau lại chuyển về trực thuộc Bộ Quốc phòng). Cũng từ năm này, lực lượng
Công an được tổ chức vũ trang và bán vũ trang theo biên chế, có phù hiệu và cấp
hàm tương tự như quân đội.
Ngày 13/6/2005, Thủ
tướng chính phủ ra quyết định số 521/QĐ-TTg, quyết định lấy ngày 19/8 hàng năm
là ngày hội “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”. Từ đó đến nay, ngày 19/8 trở
thành ngày truyền thống của Công an nhân dân Việt Nam. Việc xác định ngày
truyền thống Công an nhân dân có ý nghĩa vô cùng sâu sắc.
Thứ nhất, ngày truyền
thống lực lượng Công an nhân dân mang ý nghĩa chính trị, tư tưởng sâu sắc, đó
là một mốc son lịch sử đánh dấu sự ra đời, trưởng thành ngày càng vững mạnh của
một trong những lực lượng vũ trang cách mạng nòng cốt, quan trọng của Đảng, Nhà
nước, đảm bảo sự tồn vong của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Thứ hai, đây cũng là sự ghi nhận của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong sự
nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn xã hội.
Thứ ba, giáo dục
truyền thống cách mạng, ý chí kiên cường, vượt qua gian khổ cho cán bộ, chiến
sỹ trong lực lượng công an nhân dân, củng cố vững chắc niềm tin, lòng trung
thành của lực lượng công an nhân dân, củng cố vững chắc niềm tin, lòng trung
thành của lực lượng công an nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.
Thứ tư, hàng năm, thông qua tổ chức kỷ niệm ngày truyền thống, đây chính
là thời điểm để đánh giá và tổng kết những thành tựu đã đạt được và những hạn
chế, thiếu sót trong công cuộc bảo vệ an ninh Tổ quốc và giữ gìn trật tự an
toàn xã hội./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét