MỘT SỐ HẠN CHẾ, BẤT CẬP TRONG PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO, CẦM
QUYỀN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM HIỆN NAY
Nhân Trần
Bên cạnh những thành công và những thắng lợi, thành tựu là cơ bản,
phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng ta còn một số hạn chế, bất cập, cần
được nhận diện một cách nghiêm túc, khoa học.
Thứ nhất, hạn chế, bất cập trong nhận thức lý luận về
đảng cầm quyền, nội dung, phương thức cầm quyền của Đảng. Mặc dù Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo sự nghiệp
cách mạng hơn 90 năm, trong đó có gần 80 năm cầm quyền; tuy nhiên, khái niệm về
đảng cầm quyền, nội dung, phương thức cầm quyền của Đảng dường như vẫn là vấn
đề còn mới mẻ, thậm chí trong một thời gian dài, vấn đề này không được đặt ra
nghiên cứu một cách bài bản, đúng mức. Đến Đại hội XII, Đảng ta nhấn mạnh:
“Tiếp tục tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về đảng cầm quyền, xác định rõ
mục đích cầm quyền, phương thức cầm quyền, nội dung cầm quyền, điều kiện cầm
quyền; vấn đề phát huy dân chủ trong điều kiện một đảng duy nhất cầm quyền; các
nguy cơ cần phải phòng ngừa đối với đảng cầm quyền”. Đại hội XIII của Đảng tiếp
tục chỉ rõ “Tiếp tục tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về đổi mới nội
dung, phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong điều kiện mới”. Hiện nay,
trong Đảng vẫn có những ý kiến khác nhau về chức năng lãnh đạo và cầm quyền của
Đảng. Có ý kiến cho rằng, lãnh đạo là nói đến chức năng, nhiệm vụ xuyên suốt
của Đảng. Đảng lãnh đạo cả trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền và cả sau
khi giành được chính quyền. Theo đó, nội hàm khái niệm “Đảng lãnh đạo” rộng hơn
nội hàm khái niệm “Đảng cầm quyền”. Có ý kiến khác lại cho rằng, khái niệm
“Đảng lãnh đạo” không gắn với quyền lực chính trị, đó chỉ là sự tác động, định
hướng, tuyên truyền, vận động, thuyết phục, tạo ảnh hưởng của Đảng đối với hệ
thống chính trị và quần chúng nhân dân. Có ý kiến đi sâu hơn về học thuật thì
cho rằng, nói “Đảng cầm quyền” là đề cập đến quyền lực chính trị của Đảng sau
khi giành được chính quyền, nghĩa là vai trò lãnh đạo, kỹ năng lãnh đạo của
Đảng đối với chính quyền nhà nước. Vì vậy, sau khi giành được chính quyền, cần
nhấn mạnh một cách cụ thể vai trò, trách nhiệm và các cách thức để Đảng kiểm
soát, điều hành bộ máy chính quyền nhà nước. Nếu chỉ nhấn mạnh vai trò lãnh đạo
chung, thì chưa thể hiện hết vai trò, trách nhiệm cầm quyền của Đảng.
Vậy, vấn đề đặt ra là “Đảng lãnh đạo” và “Đảng cầm quyền” có phải là
hai khái niệm đồng nhất? Trong điều kiện một đảng duy nhất cầm quyền, phải
chăng phương thức lãnh đạo cũng là phương thức cầm quyền của Đảng? Theo đó, tăng
cường sự lãnh đạo của Đảng đồng nghĩa với nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng?
Những bất cập trong nhận thức này dẫn đến những hạn chế nhất định về xác định
nội dung, phương thức lãnh đạo cũng như nội dung, phương thức cầm quyền; hạn
chế trong việc xác định chủ trương, đường lối, giải pháp lãnh đạo và cầm quyền
của Đảng. Vì thế, những vấn đề như: Là một đảng lãnh đạo trong điều kiện có
chính quyền, Đảng phải làm gì? Đảng phải lãnh đạo như thế nào? Là một đảng duy
nhất cầm quyền, Đảng cần phải “cầm”, “nắm” những gì? Đảng cầm quyền bằng những
phương pháp, cách thức nào? Làm thế nào để nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu
quả cầm quyền của Đảng?... đều cần có sự phân định và luận giải tường minh.
Thứ hai, hạn chế, bất cập trong xây dựng chủ trương,
nghị quyết của Đảng. Mục đích tối
thượng, cao nhất của Đảng Cộng sản chân chính cầm quyền là vì hạnh phúc, lợi
ích của nhân dân. Đảng ta đã xác định, ngoài lợi ích của nhân dân, Đảng không
có lợi ích nào khác. Theo đó, mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp
luật của Nhà nước đều phải xuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn, từ nhu cầu,
nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Một trong những cách lãnh đạo mà Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã lưu ý cán bộ, đảng viên cần luôn tâm niệm là: Sự lãnh đạo trong
mọi công tác thiết thực của Đảng, ắt phải từ trong quần chúng ra,
trở lại nơi quần chúng. Tuy nhiên, trong việc hoạch định chủ
trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vẫn còn có những
bất cập so với yêu cầu này. Một số chủ trương, nghị quyết của các cấp ủy do các
cơ quan tham mưu đề xuất chưa thực sự được nghiên cứu, tổng kết thực tiễn kỹ
lưỡng; chưa đánh giá, dự báo những tác động, ảnh hưởng một cách đầy đủ, khoa
học. Hiện nay, chưa có quy định cụ thể về việc lấy ý kiến của nhân dân tham gia
đóng góp xây dựng các chủ trương, nghị quyết. Tương tự như vậy, một số chính
sách công mới chỉ được ban hành dựa trên những nhận thức và mong muốn chủ quan
của các cơ quan quản lý nhà nước, sự tham gia đề xuất và góp ý của người dân và
doanh nghiệp với tư cách là đối tượng thụ hưởng, chịu sự tác động của chính
sách còn rất hạn chế; vì vậy, khó tránh khỏi tình trạng “vừa đá bóng, vừa thổi
còi”, “lợi ích nhóm”, cục bộ. Trình độ, năng lực của một số cán bộ, công chức
trực tiếp tham gia xây dựng, hoạch định chính sách, pháp luật còn hạn chế. Bên
cạnh đó, do tầm nhìn và ý chí chủ quan, nên có chính sách đưa vào thực thi đã
nảy sinh nhiều bất cập hoặc hiệu lực, hiệu quả thực thi không cao. Một số dự
thảo luật đưa ra Quốc hội thảo luận chưa tạo được sự đồng tình, thống nhất cao.
Thứ ba, hạn chế, bất cập trong công tác tư tưởng, lý
luận của Đảng. Lịch sử lãnh đạo và
cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam đã cho thấy tầm quan trọng và sức mạnh to
lớn của công tác tư tưởng của Đảng, trong cách mạng giải phóng dân tộc cũng như
trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, trước bối cảnh, tình
hình mới có nhiều biến đổi mau lẹ, khó lường, sự phát triển của khoa học - công
nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, xu thế mở cửa và hội nhập quốc tế, trình
độ dân trí và dân chủ ngày càng được nâng cao, đòi hỏi công tác tư tưởng, lý
luận của Đảng cần phải được đổi mới mạnh mẽ. Các văn kiện của Đảng những năm
gần đây đã thẳng thắn chỉ ra những hạn chế, yếu kém, bất cập của công tác tư
tưởng, lý luận nói chung, việc nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn nói
riêng. Văn kiện Đại hội IX của Đảng nhận định: “Công tác lý luận chưa theo kịp
sự phát triển của thực tiễn và yêu cầu của cách mạng, chưa làm sáng tỏ nhiều
vấn đề quan trọng trong công cuộc đổi mới để phục vụ việc hoạch định chiến
lược, chủ trương, chính sách của Đảng, tăng cường sự nhất trí về chính trị, tư
tưởng trong xã hội”. Văn kiện Đại hội X của Đảng chỉ rõ: “Công tác lý luận chưa
làm sáng tỏ được một số vấn đề quan trọng trong công cuộc đổi mới”. Văn kiện
Đại hội XI của Đảng nhấn mạnh: “Công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn
chưa làm sáng tỏ được một số vấn đề về đảng cầm quyền, về chủ nghĩa xã hội và
con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta”. Tiếp đến, Văn kiện Đại hội XII
của Đảng tiếp tục chỉ rõ: “Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận còn
bất cập, chưa làm rõ được một số vấn đề đặt ra trong quá trình đổi mới để định
hướng trong thực tiễn, cung cấp cơ sở khoa học cho hoạch định đường lối của
Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước”. Văn kiện Đại
hội XII của Đảng còn nhấn mạnh: “Chất lượng và hiệu quả công tác tư tưởng, lý
luận chưa cao. Chậm khắc phục có hiệu quả những hạn chế của công tác tư tưởng
như thiếu sắc bén, chưa thuyết phục... Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu
lý luận chưa đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới”. Đại hội XIII của Đảng tiếp
tục nhấn mạnh những hạn chế, bất cập này.
Thứ tư, hạn chế, bất cập về cán bộ và công tác cán bộ,
đảng viên của Đảng. Đảng thống nhất
lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ của cả hệ thống chính trị
được xác định là một phương thức lãnh đạo đặc biệt quan trọng; đồng thời, cũng
là cách thức cầm quyền tất yếu của Đảng. Đội ngũ cán bộ, nhất là những cán bộ
lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp, các ngành vừa thực hiện chức trách, nhiệm
vụ theo chức danh, chức vụ, vị trí việc làm được pháp luật quy định; nhưng với
tư cách là cán bộ, đảng viên của Đảng, vừa có trách nhiệm quán triệt, tổ chức
thực hiện Cương lĩnh, đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng. Nghị quyết số
26-NQ/TW, Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, “Về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất
là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”,
đã nhận định: Nhìn tổng thể, đội ngũ cán bộ đông nhưng chưa mạnh; tình trạng
vừa thừa, vừa thiếu cán bộ xảy ra ở nhiều nơi; sự liên thông giữa các cấp, các
ngành còn hạn chế. Thiếu những cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, những nhà khoa
học và chuyên gia đầu ngành trên nhiều lĩnh vực. Năng lực của đội ngũ cán bộ
chưa đồng đều, có mặt còn hạn chế, yếu kém; nhiều cán bộ, trong đó có cả cán bộ
cấp cao thiếu tính chuyên nghiệp;... trình độ ngoại ngữ, kỹ năng giao tiếp và
khả năng làm việc trong môi trường quốc tế còn nhiều hạn chế. Không ít cán bộ
trẻ thiếu bản lĩnh, ngại rèn luyện. Một bộ phận không nhỏ cán bộ phai nhạt lý
tưởng, giảm sút ý chí, làm việc hời hợt, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư
tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển
hóa”. Một số cán bộ lãnh đạo, quản lý, trong đó có cả cán bộ cấp chiến lược,
thiếu gương mẫu, uy tín thấp, năng lực, phẩm chất chưa ngang tầm nhiệm vụ, quan
liêu, xa dân, cá nhân chủ nghĩa, vướng vào tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, “lợi
ích nhóm”. Không ít cán bộ quản lý doanh nghiệp nhà nước thiếu tu dưỡng, rèn
luyện, thiếu tính Đảng, lợi dụng sơ hở trong cơ chế, chính sách, pháp luật, cố
ý làm trái, trục lợi, làm thất thoát vốn, tài sản của Nhà nước, gây hậu quả
nghiêm trọng, bị xử lý kỷ luật đảng và xử lý theo pháp luật. Tình trạng chạy
chức, chạy quyền, chạy tuổi, chạy quy hoạch, chạy luân chuyển, chạy bằng cấp,
chạy khen thưởng, chạy danh hiệu, chạy tội,... trong đó có cả cán bộ cao cấp,
chậm được ngăn chặn, đẩy lùi. Cùng với những bất cập như trên trong công tác
cán bộ và đội ngũ cán bộ, công tác đảng viên và đội ngũ đảng viên của Đảng cũng
có những hạn chế, bất cập, tạo nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ.
Đó là, vấn đề suy thoái về tư tưởng chính trị, phai nhạt lý tưởng, niềm tin vào
sự lãnh đạo của Đảng; động cơ vào Đảng không đúng đắn, ý thức chấp hành kỷ luật
đảng không nghiêm; việc nêu gương, tính tiền phong gương mẫu của đảng viên
trước quần chúng còn hạn chế. Còn có những biểu hiện cá nhân chủ nghĩa, tư
tưởng cơ hội, thực dụng trong các tổ chức đảng cần được nhanh chóng nhận diện
rõ và có giải pháp khắc phục kịp thời.
Thứ năm, hạn chế, bất cập trong công tác kiểm tra,
giám sát và thi hành kỷ luật của Đảng.
Trong những năm gần đây, Đảng ta đã rất coi trọng công tác kiểm tra, giám sát
và thi hành kỷ luật đảng. Công tác này đã đạt được những kết quả rất quan
trọng, từ việc xây dựng, ban hành các quy chế, quy định và tổ chức thực hiện
nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng, được đảng viên và nhân dân đồng
tình, đánh giá cao. Mặc dù vậy, Đại hội XIII của Đảng nhận định, công tác kiểm
tra, giám sát, kỷ luật đảng chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu trong tình hình mới;
chất lượng, hiệu quả chưa đồng đều ở các cấp. Công tác kiểm tra ở một số nơi
thiếu trọng tâm, trọng điểm; việc tự kiểm tra, phát hiện và xử lý vi phạm của
nhiều cấp ủy, tổ chức đảng vẫn là khâu yếu; công tác kiểm tra, giám sát của các
cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy chưa đi vào nền nếp. Công tác giám sát ở
các cấp chưa thường xuyên, có nơi, có lúc chưa thực chất, phạm vi, đối tượng
còn hẹp; hiệu quả phát hiện, cảnh báo, phòng ngừa vi phạm còn hạn chế. Việc thi
hành kỷ luật đảng ở một số nơi chưa nghiêm, còn hiện tượng nể nang, né tránh,
ngại va chạm. Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo còn chậm.
Có thể khẳng định, những hạn chế, bất cập trong phương thức lãnh đạo,
cầm quyền của Đảng nêu trên, ở các mức độ khác nhau đã ảnh hưởng không nhỏ đến
năng lực, hiệu quả lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, ảnh hưởng đến sự phát triển
kinh tế - xã hội, đến uy tín của Đảng, niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Bởi
vậy, cùng với việc nhận diện những hạn chế, bất cập, việc nghiên cứu, tìm kiếm,
đề xuất những giải pháp để khắc phục, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của
Đảng trong điều kiện hiện nay là vấn đề rất quan trọng và cấp bách, đòi hỏi
phải phát huy nhiều hơn nữa vai trò, trách nhiệm, trí tuệ của các cấp ủy, tổ
chức đảng, của tất cả cán bộ, đảng viên trong toàn Đảng./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét