NHỮNG THÀNH TỰU
VỀ PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO, CẦM QUYỀN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Nhân Trần
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Đảng Cộng sản
Việt Nam chính đảng đã chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam ngay từ khi ra
đời đã trở thành đảng cầm quyền. Từ đó đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng
duy nhất cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước, các thành viên trong hệ thống chính trị
và toàn xã hội. Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của sự
nghiệp cách mạng Việt Nam. Trên cơ sở vận dụng các nguyên lý về đảng
chính trị và lý luận xây dựng Đảng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, từ thực tiễn, kinh nghiệm thế giới và thực tiễn cách mạng Việt Nam, Đảng
Cộng sản Việt Nam đã xác định được các phương thức lãnh đạo, phương thức cầm
quyền đúng đắn, phù hợp. Đó là hệ thống các phương pháp, cách thức mà Đảng xác
lập để tác động, định hướng, chế định, điều khiển, kiểm soát việc tổ chức và
hoạt động của các thành viên trong hệ thống chính trị, đặc biệt là bộ máy nhà
nước để cụ thể hóa, thể chế hóa và tổ chức thực hiện mục tiêu, lý tưởng, các
chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng qua mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ. Qua
thực tiễn lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, nhất là trong công cuộc đổi mới, nội
dung và phương thức lãnh đạo, phương thức cầm quyền của Đảng ngày càng được xác
định rõ và hoàn thiện hơn. Nhờ đó, các cơ sở, thể chế cầm quyền, điều kiện bảo
đảm cho sự cầm quyền và năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng ngày càng được
củng cố, với những thành tựu nổi bật sau đây:
Thứ nhất, Đảng trở thành lực lượng chính trị
duy nhất có quyền xác lập, đưa ra Cương lĩnh, chủ trương, đường lối lãnh đạo
Nhà nước, các thành viên trong hệ thống chính trị và các lĩnh vực trọng yếu của
đời sống xã hội. Bằng đường lối lãnh đạo, cầm quyền đúng đắn, Đảng đã đưa sự
nghiệp cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Vai trò lãnh
đạo, cầm quyền của Đảng đối với Nhà nước và xã hội được khẳng định trong các
bản Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vai trò này không
chỉ được xác lập ở cấp Trung ương mà còn được xác lập và tổ chức thực hiện,
được chấp hành ở các cấp hành chính lãnh thổ địa phương, ở các cơ quan, đơn vị
trong toàn bộ hệ thống chính trị. Cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân
dân làm chủ” đã sớm được khẳng định và thực thi bằng các quy định chặt chẽ
trong Điều lệ Đảng, Hiến pháp và các quy định của pháp luật, cũng như các quy
chế, quy định của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị, các hội quần
chúng.
Thứ hai, Đảng xây dựng và thiết lập được hệ thống tổ chức của Đảng
chặt chẽ và tương ứng với hệ thống tổ chức hành chính 4 cấp của Nhà nước, được
lập ở tất cả các đơn vị hành chính lãnh thổ từ cơ sở trở lên, ở các cơ quan của
các tổ chức trong hệ thống chính trị. Hiện nay, hệ thống tổ chức của Đảng gồm
67 đảng bộ trực thuộc Trung ương, trên 1.285 đảng bộ cấp huyện, 54.349 tổ chức
cơ sở đảng. Toàn Đảng có trên 5,1 triệu đảng viên hoạt động trong tất cả các tổ
chức, bộ máy của Đảng, Nhà nước, các thành viên khác của hệ thống chính trị;
các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, các đơn vị sự nghiệp công lập; các
lĩnh vực trọng yếu của đời sống xã hội. Các cấp đảng bộ, với hạt nhân là các
cấp ủy, là cơ quan lãnh đạo của Đảng ở mỗi cấp giữa hai kỳ đại hội, do đại hội
đảng bộ cùng cấp bầu ra. Các tổ chức cơ sở đảng là những hạt nhân chính trị,
thực hiện sự lãnh đạo để bảo đảm mọi hoạt động ở cơ sở theo đúng chủ trương,
đường lối, nghị quyết của Đảng, tiến hành công tác xây dựng Đảng, đồng thời là
“cầu nối” giữa Đảng với nhân dân. Đội ngũ đảng viên của Đảng có vai trò, trách
nhiệm tiên phong, gương mẫu đi đầu trong tuyên truyền, vận động và tổ chức quần
chúng thực hiện các chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước.
Thứ ba, Đảng thống nhất lãnh đạo công tác tư tưởng đối với hệ
thống chính trị và toàn xã hội, từ việc xác lập, xây dựng đến truyền bá, phổ
biến, giáo dục, bổ sung, phát triển nền tảng tư tưởng, đường lối, quan điểm của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đồng thời, Đảng thường xuyên lãnh đạo
xây dựng tổ chức, bộ máy, cán bộ và hoạt động của hệ thống thiết chế công tác
tư tưởng, lý luận của Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị, đó là các hội đồng
lý luận ở Trung ương, các cơ quan tuyên giáo, cơ quan thông tấn, báo chí, xuất
bản, đội ngũ báo cáo viên, phóng viên, biên tập viên, phát thanh viên và đội
ngũ giáo viên, giảng viên lý luận chính trị ở các cơ sở đào tạo, các học viện,
nhà trường... để phục vụ cho sự lãnh đạo của Đảng trong từng giai đoạn, từng
thời kỳ, với từng đối tượng.
Thứ tư, Đảng thống nhất lãnh đạo công tác tổ chức, cán bộ và quản
lý đội ngũ cán bộ của cả hệ thống chính trị, các tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp
nhà nước, các đơn vị sự nghiệp công lập. Vai trò lãnh đạo công tác tổ chức, cán
bộ của Đảng đã được quy định chặt chẽ trong Điều lệ, nghị quyết, quy chế, quy
định của Đảng; quy chế hoạt động của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp; trong điều
lệ, quy chế, quy định về tổ chức, hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội,
các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế nhà nước và các đơn vị sự nghiệp công lập.
Đây là cơ sở chính trị, pháp lý hết sức quan trọng, giúp Đảng xây dựng và kiểm
soát được toàn bộ hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị, đặc biệt
là bộ máy nhà nước cũng như các lĩnh vực trọng yếu của đời sống xã hội. Tuyệt
đại đa số các vị trí quan trọng trong cơ quan, bộ máy nhà nước và các tổ chức
khác của hệ thống chính trị, ở các lĩnh vực trọng yếu đều do cán bộ là đảng
viên đảm nhiệm. Đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các
cấp có trách nhiệm tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối, nghị quyết của
Đảng trong phạm vi địa phương, cơ quan, đơn vị, tổ chức, lĩnh vực và thẩm
quyền, trách nhiệm được Đảng giao phó.
Thứ năm, Đảng thống nhất lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối, về mọi mặt
đối với lực lượng vũ trang nhân dân. Đây vừa là quyền, là nguyên tắc cơ bản,
tất yếu; vừa là điều kiện tiên quyết bảo đảm cho vai trò lãnh đạo, vai trò cầm
quyền của Đảng được xác lập và củng cố; là nhân tố bảo đảm sự ổn định chế độ
chính trị, an ninh, trật tự, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và
bảo toàn lợi ích quốc gia. Vai trò lãnh đạo này của Đảng ngày càng được tăng
cường và củng cố bởi các quy định của Điều lệ Đảng, của Hiến pháp, pháp luật và
các thiết chế, cơ chế, quy chế, quy định, điều lệnh, kỷ luật trong Quân đội và
Công an. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, lực lượng Quân đội và Công an ngày càng
được xây dựng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.
Thứ sáu, Đảng thực hiện có hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát và
thi hành kỷ luật đảng. Chấp hành kỷ luật đảng cũng đồng thời đòi hỏi phải chấp
hành pháp luật của Nhà nước và ngược lại. Với bộ máy kiểm tra, giám sát của
Đảng từ Trung ương đến cơ sở; với hệ thống các quy chế, quy định điều chỉnh,
kiểm soát hoạt động của mọi tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên; cùng với việc
phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng và Nhà nước, những biểu
hiện lệch lạc, vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước đều có thể bị
phát hiện và xử lý nghiêm minh. Kết quả kiểm tra, giám sát trong Đảng, nhất là
nhiệm kỳ Đại hội XII, nửa đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng vừa qua, là minh
chứng nổi bật cho cách thức thực hiện này. Bằng công tác kiểm tra, giám sát và
kỷ luật mà Đảng giữ vững được kỷ luật, kỷ cương, nâng cao năng lực lãnh đạo và
sức chiến đấu, năng lực cầm quyền, thể hiện ý chí và quyết tâm chính trị của
Đảng, thực hiện có hiệu quả Cương lĩnh chính trị, Điều lệ, chỉ thị, nghị quyết
của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Với các phương pháp, cách thức cầm quyền dân chủ, khoa học
và phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ từng thời kỳ của Đảng, nên sự nghiệp cách mạng
Việt Nam nói chung, sự nghiệp đổi mới đất nước nói riêng đã đạt được những
thắng lợi và thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đó là thắng lợi của hai cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, giành độc lập dân tộc,
thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đó là những thành tựu
to lớn của công cuộc đổi mới, đưa nước Việt Nam từ một nước nông nghiệp nghèo,
thiếu lương thực, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thấp kém so với các nước
trong khu vực trở thành một nước đang phát triển, một cường quốc xuất khẩu gạo
và thủy sản; nền kinh tế luôn duy trì mức tăng trưởng cao, bình quân GDP 10 năm
gần đây đạt trung bình 6%/năm. Việt Nam là một trong 16 nền kinh tế mới nổi
thành công nhất thế giới; dự trữ ngoại hối tăng nhanh qua các năm, đạt mức kỷ
lục hơn 100 tỷ USD năm 2022; hệ thống chính trị ổn định; quốc phòng, an ninh
được giữ vững; dân chủ trong Đảng và trong xã hội được phát huy. Những thành
tựu tổng hợp nói trên đã đưa đến những kết quả thuyết phục trên mọi lĩnh vực,
như đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng lên, thu
nhập bình quân đầu người năm 2022 đạt 4.110 USD; quy mô nền kinh tế đạt 409 tỷ
USD; quan hệ đối ngoại ngày càng rộng mở, với trên 191 nước, trong đó có quan
hệ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với tất cả các nước lớn; có quan hệ kinh
tế - thương mại với trên 230 nước và vùng lãnh thổ, tạo điều kiện cho thế và
lực của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng tăng. Những thành tựu đó đã được
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định tại Đại hội XIII của Đảng: “Đất
nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày
nay”./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét