Thứ Bảy, 14 tháng 3, 2020


SỰ RA ĐỜI CỦA BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG VIỆT NAM
                                                                                                                    Nhân Trần
Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, ngày 20 tháng 7 năm 1954 Hiệp định Giơnevơ được ký kết chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương; các nước tham gia Hội nghị tuyên bố tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia. Mỹ là nước trực tiếp giúp Pháp trong cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương và là thành viên của Hội nghị Giơnevơ nhưng lại trắng trợn tuyên bố: “Mỹ không bị nội dung Hiệp định này ràng buộc”; từ đó, ráo riết hất cẳng Pháp ra khỏi Đông Dương để thống trị miền Nam nước ta bằng chủ nghĩa thực dân mới; sử dụng bọn tay sai phản động trong nước nổi phỉ, xưng vua, gây bạo loạn ở khu vực biên giới Việt Nam - Trung Quốc, Việt Nam - Lào, cưỡng ép đồng bào công giáo ở phía Bắc di cư vào Nam; cài cắm gián điệp, biệt kích ra miền Bắc; thực hiện âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta, ngăn chặn sự phát triển của chủ nghĩa xã hội, đẩy lùi phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam.
     Trước tình hình đó, Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá đúng bản chất xâm lược của đế quốc Mỹ: Mỹ không những là kè thù của nhân dân thế giới, mà Mỹ đang biến thành kẻ thù chính, kẻ thù trực tiếp của nhân dân Việt - Miên - Lào, đồng thời chủ trương tập trung chống Mỹ cứu nước. Do đó, ngay sau thắng lợi của Chiến dịch Biên giới 1950, Trung ương Đảng và Bác Hồ đã quyết định thành lập 3 lực lượng trực thuộc Bộ Quốc phòng và Bộ Công an làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới đất liền, bờ biển, giới tuyến và các mục tiêu quan trọng ở nội địa, gồm:
Công an Biên phòng thuộc Bộ Công an, thành lập theo sắc lệnh số 141/SL, ngày 16/02/1953 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký, bố trí thành các đồn biên phòng dọc biên giới, trực thuộc Ty Công an các tỉnh có biên giới.
Cảnh sát Vũ trang thuộc Bộ Công an được thành lập theo Nghị định số 982/TTg, ngày 28/7/1956 của Chính phủ, làm nhiệm vụ bảo vệ các trại giam, tham gia tiễu phỉ, trừ gian.
Bộ đội Bảo vệ thuộc Bộ Quốc phòng làm nhiệm vụ bảo vệ gồm Trung đoàn Tây Bắc bảo vệ biên giới Việt Nam - Lào, Đại đoàn 350 (Sư đoàn 350) làm nhiệm vụ bảo vệ các cơ quan Trung ương, bảo vệ các mục tiêu chính trị, kinh tế, quân sự quan trọng ở miền Bắc và Tiểu đoàn 25 (sau này là Tiểu đoàn 41) làm nhiệm vụ bảo vệ giới tuyến quân sự tạm thời.
     Để tăng cường công tác quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biên giới, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới, cần có một lực lượng vũ trang thống nhất, chuyên trách, vững mạnh về chính trị, chặt chẽ về tổ chức; nắm vững đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; hiểu biết sâu về pháp luật, có năng lực quản lý, bảo vệ biên giới, giới tuyến, nội địa bằng các biện pháp nghiệp vụ chuyên sâu và khả năng chiến đấu vũ trang giỏi. Ngày 19/11/1958, Bộ Chính trị (khóa II) ra Nghị quyết số 58/NQ-TW Về việc thành lập lực lượng Cảnh vệ nội địa và Biên phòng, sau này là lực lượng Công an nhân dân vũ trang. Đây là nghị quyết đầu tiên của Đảng về công tác biên phòng, nội địa và giới tuyến, khẳng định vai trò, vị trí, tầm quan trọng của biên giới quốc gia; thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và Nhân dân đối với lực lượng vũ trang chuyên trách, nòng cốt bảo vệ biên giới, giới tuyến và các mục tiêu nội địa. Nghị quyết của Bộ Chính trị xác định lực lượng Cảnh vệ nội địa và Biên phòng có nhiệm vụ: Trấn áp mọi hành động phá hoại của bọn phản cách mạng trong nước và bọn phản cách mạng ngoài nước xâm nhập phá hoại nước ta, luôn luôn sẵn sàng, chiến đấu để bảo vệ an ninh biên giới, bờ biển, giới tuyến và nội địa, bảo vệ an toàn cơ sở kinh tế, văn hóa quan trọng.
Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị, ngày 03 tháng 3 năm 1959, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 100/TTg thành lập lực lượng Công an nhân dân vũ trang: Thống nhất các đơn vị bộ đội thuộc Bộ Quốc phòng đang công tác bảo vệ nội địa, bảo vệ biên giới và các đơn vị Công an Biên phòng, Cảnh sát vũ trang thành một lực lượng vũ trang chuyên trách công tác biên phòng và bảo vệ nội địa, lấy tên là Công an nhân dân vũ trang, đặt dưới sự lãnh đạo của Bộ Công an. Tại buổi Lễ thành lập ngày 28 tháng 3 năm 1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến dự và huấn thị cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân vũ trang: “Đoàn kết, cảnh giác; liêm chính, kiệm cần; hoàn thành nhiệm vụ; khắc phục khó khăn; dũng cảm trước địch; vì nước quên thân; trung thành với Đảng; tận tụy với dân”.
          Từ đây, nước ta chính thức có một lực lượng vũ trang chuyên trách công tác nội địa, biên phòng, tập trung thống nhất từ Trung ương đến cơ sở, gồm 3 cấp: Trung ương có Ban Chỉ huy Trung ương Công an vũ trang nhân dân (tháng 7/1961 đổi tên thành Bộ Tư lệnh Công an vũ trang nhân dân) do đồng chí Thiếu tướng Phan Trọng Tuệ, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Công an làm Tư lệnh, kiêm Chính ủy đầu tiên của lực lượng; cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có Ban Chỉ huy Công an vũ trang nhân dân tỉnh, thành phố; cấp cơ sở có các đồn Công an vũ trang nhân dân và đơn vị cơ động. Từ đó, ngày 03 tháng 3 năm 1959 chính thức trở thành Ngày truyền thống của lực lượng Công an vũ trang nhân dân.
          Ngày 10 tháng 10 năm 1979, Bộ Chính trị (khóa IV) ban hành Nghị quyết số 22-NQ/TW Về việc chuyển giao nhiệm vụ và lực lượng Công an vũ trang nhân dân sang Bộ Quốc phòng thành lực lượng Bộ đội Biên phòng trực thuộc Bộ Quốc phòng.
           Ngày 30 tháng 11 năm 1987, Bộ Chính trị (khóa VI) ra Nghị quyết số 07/NQ-TW Về nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn xã hội trong tình hình mới; chuyển giao lực lượng Bộ đội Biên phòng cho Bộ Nội vụ phụ trách (tức Bộ Công an hiện nay). Đồng thời tại Chỉ thị số 41-CT/TW, ngày 31 tháng 5 năm 1988 của Ban Bí thư Về chuyển giao lực lượng Bộ đội Biên phòng từ Bộ Quốc phòng sang Bộ Nội vụ đã ghi rõ: Bộ Quốc phòng chuyển giao nhiệm vụ, toàn bộ tổ chức, biên chế, trang bị và cơ sở vật chất, kỹ thuật của lực lượng Bộ đội Biên phòng sang Bộ Nội vụ. Lực lượng Bộ đội Biên phòng đặt dưới sự chỉ đạo, chỉ huy toàn diện của Bộ trưởng Bộ Nội vụ.
          Ngày 08 tháng 8 năm 1995, Bộ Chính trị Ban (khóa VII) ra Nghị quyết số 11-NQ/TW Về xây dựng Bộ đội Biên phòng trong tình hình mới đã quyết định chuyển lực lượng Bộ đội Biên phòng từ Bộ Nội vụ sang Bộ Quốc phòng và xác định nhiệm vụ công tác biên phòng trong tình hình mới rất toàn diện, bao gồm: Bảo vệ biên giới trên bộ, trên biển; bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của đất nước; bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, chống xâm nhập và chống buôn lậu qua biên giới; bảo vệ tài nguyên của đất nước; xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển với các nước láng giềng. Phối hợp với lực lượng bảo vệ biên giới các nước láng giềng thi hành các điều ước quốc tế, các hiệp ước, hiệp định; tuyên truyền, vận động Nhân dân vùng biên giới tăng cường đoàn kết, thực hiện tốt các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; xây dựng cơ sở chính trị, xây dựng nền biên phòng toàn dân, thế trận biên phòng toàn dân vững mạnh.
          Ngày 22 tháng 12 năm 2004, Bộ Chính trị (khóa IX) ra Thông báo số 165-TB/TW Về tổ chức Bộ đội Biên phòng nhấn mạnh: Công tác bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia và xây dựng Bộ đội Biên phòng phải bảo đảm lãnh đạo tập trung, thống nhất của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chủ tịch nước, Chính phủ, Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương), Bộ Quốc phòng và các tỉnh ủy, thành ủy (nơi có Bộ đội Biên phòng). Giữ ổn định lâu dài hệ thống tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Bộ đội Biên phòng như Nghị quyết số 11-NQ/TW, ngày 08 tháng 8 năm 1995 của Bộ Chính trị. Bộ đội Biên phòng là một quân chủng thuộc Bộ Quốc phòng, được chỉ huy, đảm bảo thống nhất theo ngành dọc từ Trung ương đến cơ sở, với 3 cấp: Bộ Tư lệnh, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh, thành phố và đồn biên phòng. Thường xuyên phối hợp hiệp đồng chặt chẽ với các lực lượng trên địa bàn; khi có chiến tranh thực hiện theo quy chế của Bộ Quốc phòng.
Ngày 28 tháng 9 năm 2018, Bộ Chính trị (khóa XII) đã ban hành Nghị quyết số 33-NQ/TW Về chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia. Đây là dấu mốc lịch sử quan trọng trong quá trình xây dựng, phát triển của lực lượng Bộ đội Biên phòng, đồng thời tiếp tục xác định vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đồng thời đề ra phương hướng, giải pháp nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn bộ hệ thống chính trị, toàn dân và toàn quân bảo vệ vững chắc chủ quyền an ninh biên giới quốc gia./.

 


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét