CHỐNG
'DIỄN BIẾN HÒA BÌNH': TỰ DO BÁO CHÍ VÀ
CÁI
NHÌN ÁC Ý, DÃ TÂM KÍCH ĐỘNG, CHỐNG PHÁ CỦA CPJ
HOA
SÚNG
Năm nào
cũng vậy, dù công bố vào thời điểm nào, Báo cáo hằng năm về tình hình tự do báo
chí toàn cầu của Ủy ban Bảo vệ ký giả quốc tế (CPJ) cũng đều có chung sự thiếu
thiện cảm, hồ đồ, xuyên tạc, bóp méo, chống phá vấn đề tự do báo chí ở Việt
Nam. Đương nhiên, Báo cáo công bố năm 2019 mới đây cũng không là ngoại lệ, bởi
nó vẫn chứa đựng cái nhìn ác ý, hằn học, dã tâm kích động, chống phá.
CPJ VÀ
NHỮNG CÁI NHÌN LỆCH LẠC, HẰN HỌC
Ủy ban Bảo vệ ký giả (Committed to
Protect Journalists - CPJ) được thành lập năm 1981, tại New York, Mỹ. Khi mới
thành lập, CPJ đề ra tôn chỉ, mục tiêu “thúc đẩy tự do ngôn luận trên toàn thế
giới thông qua hoạt động bảo vệ quyền đưa tin và nền tự do báo chí trên cơ sở
tôn trọng sự thật khách quan”. Thoạt nghe, ai cũng tin vào những điều tốt đẹp,
hướng thiện, công bằng của CPJ. Nhưng thực tế thì sao? Suốt gần 40 năm tồn tại,
ngày càng thấy rõ sự biến tướng của tổ chức này, đặc biệt trong việc nó bị lũng
đoạn nhằm phục vụ mưu đồ chính trị, với những nhận xét về các vấn đề lớn của
nhiều quốc gia, đặc biệt là nhân quyền, tự do báo chí một cách vô lối, xuyên
tạc, áp đặt, thiếu khách quan, công bằng.
Thử điểm lại một vài ví dụ bất chợt
trong các báo cáo qua nhiều năm khác nhau để xem cái nhìn lệch lạc, phiến diện,
hằn học, dã tâm của CPJ đối với tình hình tự do báo chí tại Việt Nam ra sao.
Ngày 10/2/2008, CPJ ra cái gọi là
“Bản phúc trình về tình trạng đàn áp ký giả trên khắp thế giới trong năm 2008”,
trong đó có nội dung xuyên tạc rằng Việt Nam đã “đàn áp nhiều ký giả, những
người viết nhật ký trên mạng (tức blogger), ngăn chặn mọi trang web hoặc vô cớ
bắt giam và thu hồi thẻ nhà báo của một số phóng viên”...
Ngày 14/2/2013, CPJ vu vạ rằng, Việt
Nam nằm trong top 5 quốc gia cầm tù ký giả nhiều nhất trên thế giới. Theo CPJ,
“các nhà báo bị bỏ tù tại Việt Nam chủ yếu vì bị cáo buộc tội “chống phá nhà
nước” - một trong những tội danh mà Việt Nam thường dùng để trấn áp những tiếng
nói chỉ trích Chính phủ”.
Ngày 8/12/2014, CPJ quy kết rằng, “Chính phủ Việt Nam nên chấm dứt việc sử dụng các đe dọa pháp lý để bịt miệng các blogger độc lập và hãy bắt đầu bảo vệ quyền tự do báo chí được ghi nhận trong Hiến pháp Việt Nam”.
Ngày 8/12/2014, CPJ quy kết rằng, “Chính phủ Việt Nam nên chấm dứt việc sử dụng các đe dọa pháp lý để bịt miệng các blogger độc lập và hãy bắt đầu bảo vệ quyền tự do báo chí được ghi nhận trong Hiến pháp Việt Nam”.
Mới đây nhất, đầu tháng 9/2019, CPJ
“sáng tác” trong Báo cáo rằng, Việt Nam nằm trong top 10 quốc gia kiểm duyệt
báo chí nhiều nhất. Chiều 12/9, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng
khẳng định rằng: “Chúng tôi hoàn toàn bác bỏ những nội dung sai sự thật, dựa
trên những thông tin không chính xác, thiếu khách quan về tình hình Việt Nam
trong Báo cáo nói trên. Tại Việt Nam, quyền tự do ngôn luận nói chung và quyền
tự do báo chí nói riêng được quy định cụ thể trong Hiến pháp 2013 và nhiều văn
bản Luật liên quan. Việt Nam đang nỗ lực hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm bảo
đảm quyền tự do ngôn luận trên báo chí, không gian mạng và các hình thức khác,
trong đó bảo vệ người dân trước tin tức giả, tin tức không phù hợp với thuần
phong mỹ tục của Việt Nam, tin tức bịa đặt, sai sự thật, kích động hận thù…”.
Rõ ràng, trong hầu hết các báo cáo
của CPJ, nhiều thông tin bịa đặt, xuyên tạc trắng trợn tình hình Việt Nam đã
được đưa ra, đều nhắm đến sự kích động, gây nhiễu loạn, chống phá đất nước ta,
rằng “Việt Nam đàn áp dân chủ, nhân quyền hoặc bịt miệng đối lập”. Đây là dã
tâm có chủ đích, xuyên suốt qua nhiều năm, với cái nhìn lệch lạc, hằn học, bịa
đặt, vu khống, áp đặt đầy ác ý.
NHỮNG SỰ
THẬT KHÔNG THỂ PHẢN BÁC!
Rõ ràng, vấn đề tự do ngôn luận nói
chung, tự do báo chí nói riêng đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm từ rất sớm.
Chỉ hơn 1 năm sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 9/11/1946, Quốc hội
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thông qua Hiến pháp gồm 7 chương, 70 điều,
trong đó, quyền tự do ngôn luận được Hiến định ở Điều 10: “Công dân Việt Nam có
quyền: Tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín
ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài”. Tiếp đó, tại các
Hiến pháp sửa đổi vào năm 1992 và năm 2013, quyền tự do ngôn luận ở Việt Nam
luôn được đề cao, bảo đảm, tôn trọng. Điều 25 Hiếp pháp 2013 khẳng định: “Công
dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập
hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Hay như
trong các luật được ban hành thời gian gần đây, như Luật Báo chí (năm 2016);
Luật Tiếp cận thông tin (năm 2016); Luật An ninh mạng (năm 2018)…, vấn đề tự do
ngôn luận luôn được tôn trọng và bảo đảm.
Thực tế là kể từ khi hòa mạng
Intenet toàn cầu vào ngày 1/12/1997, Việt Nam liên tục thiết lập những kỷ lục
mới, bảo đảm quyền tự do ngôn luận, báo chí, đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu
tìm kiếm, trao đổi, thụ hưởng thông tin mọi lúc, mọi nơi, mọi mặt… của người dân
cả trên các phương tiện truyền thông đại chúng, cũng như truyền thông xã hội.
Người dân Việt Nam có thể truy cập vào tất cả các trang web, báo chí trên thế
giới; có thể bày tỏ mọi suy nghĩ, trăn trở, mong muốn chính đáng, hợp pháp, bảo
đảm thuần phong mỹ tục, giá trị nhân văn, đạo đức… của mình trên mạng xã hội
hằng giờ, hằng ngày, thông qua việc viết bài, đăng ảnh, video clip. Riêng lĩnh
vực báo chí, hiện cả nước có 868 cơ quan báo in, báo mạng điện tử đang hoạt
động, phản ánh trung thực, sinh động, khách quan, toàn diện sự phát triển của
đất nước trên tất cả các lĩnh vực…
Thế nhưng, trong lịch sử phát triển
của mình, Việt Nam luôn phải đối mặt với các phần tử, thế lực thù địch trên
nhiều mặt trận khác nhau, trong đó có vấn đề tự do báo chí nói riêng, tự do
ngôn luận nói chung. Các thế lực phản động, thù địch luôn tìm mọi cách để xuyên
tạc, bịa đặt, bóp méo, vu khống về vấn đề tự do báo chí, tự do ngôn luận ở Việt
Nam. Ngay như ngày 3/4/2019, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc ký Quyết định
số 362/QĐ-TTg, Phê duyệt Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến
năm 2025, cũng bị các thế lực thù địch, phản động vu vạ rằng, Việt Nam kiểm
soát chặt báo chí, không có tự do báo chí… Trên thực tế, đây là quyết định đã
được chuẩn bị từ lâu, kỹ lưỡng, phù hợp với sự phát triển trong tình hình mới.
Quy hoạch báo chí nhằm chấn chỉnh những biểu hiện lệch lạc, xa rời tôn chỉ, mục
đích, thương mại hóa, thông tin phiến diện, chú trọng mặt trái, tiêu cực… trong
xã hội, thiếu tính giáo dục, thậm chí phản tác dụng, lan truyền những điều xấu.
Rõ ràng, việc tiến hành quy hoạch, sắp xếp lại hệ thống báo chí tại Việt Nam là
để báo chí hoạt động chuyên nghiệp, lớn mạnh hơn, bắt kịp sự phát triển của báo
chí thế giới…
Thế nên, những thông tin mà CPJ đưa
ra mới đây là hết sức vô lối, không hề có cơ sở tin cậy! Điều này càng dễ hiểu
hơn, khi chính Tổng thống Mỹ Donald Trump, ngày 18/2/2017, đã giận dữ viết
rằng: “Truyền thông tin tức giả (do các cơ quan báo chí lừng danh của Mỹ như
New York Times, NBCNews, ABC, CBS, CNN xuất bản) không phải là kẻ thù của tôi,
đó là kẻ thù của người dân Mỹ!”.
Vấn đề quan trọng khác, phải nói rõ
rằng, CPJ thường xuyên cố tình “đánh lận” giữa nhà báo với các blogger, rồi vu
vạ rằng Việt Nam đàn áp, bỏ tù các nhà báo. Thực chất, tại Việt Nam, việc người
dân sử dụng mạng xã hội, các phương tiện truyền thông xã hội để bày tỏ quan
điểm, chính kiến, tâm trạng, nghĩ suy của mình là hết sức dễ dàng, thoải mái mà
không gặp phải bất kỳ sự cản trở, ngăn cấm gì. Cũng như các quốc gia khác,
trong đó có cả Mỹ, việc các blogger chịu trách nhiệm trước pháp luật quốc gia
mình về những gì đăng tải trên mạng xã hội là đương nhiên. Và khi vi phạm, việc
bị xử lý là hết sức thường tình. Thế nhưng, CPJ thường xuyên “đánh lận” giữa
blogger và nhà báo, để rồi đặt điều sai trái trong những báo cáo của mình về
tình hình tự do báo chí ở Việt Nam. Đó là sự không sòng phẳng, ẩn chứa nhiều dã
tâm kích động, chống phá!
Đáng nói, Điều 19 Tuyên ngôn quốc tế
về nhân quyền (được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua và công bố theo Nghị
quyết 271A (III), ngày 10/12/1948) cũng khẳng định rằng: “Mọi người đều có
quyền tự do ngôn luận và biểu đạt; bao gồm tự do giữ ý kiến mà không bị can
thiệp, cũng như tự do tìm kiếm, thu nhận và truyền bá thông tin và tư tưởng
bằng bất cứ phương tiện truyền thông nào và không giới hạn về biên giới”. Với
mỗi quốc gia, dân tộc, những sự kế thừa, phát triển, vận dụng, tuân thủ các giá
trị của bản Tuyên ngôn có sự khác nhau nhất định, bởi đặc thù về chính trị,
kinh tế, xã hội, văn hóa… là không giống nhau. Nhưng có một điểm chung bắt buộc
là, các quyền tự do ấy, phải trong khuôn khổ pháp luật, như chính Điều 29 và
Điều 30 của Tuyên ngôn quy định. Thế nên, không thể có một luật pháp nào có thể
áp dụng chung cho mọi quốc gia. Và đương nhiên, nếu vi phạm thì việc phải chịu
trách nhiệm trước pháp luật là điều không thể chối cãi!
Trước những thông tin sai sự thật
một cách có chủ đích, kéo dài, dã tâm kích động, chống phá của CPJ nói riêng,
các thế lực thù địch, phản động nói chung; mỗi người dân khi tiếp cận cần tỉnh
táo, cảnh giác, sàng lọc, thẩm định để tránh bị lợi dụng, lôi kéo, kích động
dẫn đến có những hành động bột phát, gây phương hại đến lợi ích quốc gia, dân
tộc, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân…/.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét