BỘ NGOẠI GIAO MỸ LẠI CỐ TÌNH XUYÊN
TẠC
VỀ TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM
Ở Việt Nam, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân được bảo đảm
bằng Hiến pháp và pháp luật. Điều 24, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam năm 2013 quy định: “(1) Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng. (2) Nhà
nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. (3) Không ai được
xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi
phạm pháp luật”. Theo thống kê chưa đầy đủ,
khoảng 95% dân số Việt Nam có đời sống tín ngưỡng. Hiện nay, nước ta có 13 tôn
giáo với 38 tổ chức tôn giáo và 01 pháp môn tu hành đã được công nhận và cấp
đăng ký hoạt động, với khoảng 30 triệu tín đồ, trên 100 nghìn chức sắc, chức
việc, nhà tu hành, hàng chục cơ sở đào tạo chức sắc tôn giáo, hàng chục nghìn
cơ sở thờ tự, v.v. Hằng năm, có khoảng 8.500 lễ hội tôn giáo, tín ngưỡng được
tổ chức. Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng chức sắc, nhà tu hành được duy trì, mở
rộng. Nhiều chức sắc và nhà tu hành Việt Nam được cử đi đào tạo ở Mỹ, Pháp, Ý,
Ấn Ðộ, v.v. Đại diện chức sắc các tôn giáo Việt Nam đã tham gia đối thoại tôn
giáo, tín ngưỡng, giao lưu học hỏi, trao đổi giáo lý và giáo luật tại các diễn
đàn lớn, như: Diễn đàn hợp tác Á- Âu (ASEM), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
(ASEAN),… và có quan hệ ngoại giao với Vatican kể từ năm 1989 và có đại diện
không thường trú tại Việt Nam từ năm 2011 và đến nay. Các tổ chức nhân quyền và
tôn giáo quốc tế đã nhiều lần đến thăm, làm việc, khảo sát thực tế và thừa nhận
việc đảm bảo quyền con người, trong đó có quyền tự do tôn giáo ở Việt Nam đạt
được nhiều tiến bộ. Đoàn Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ, do Phó Chủ tịch
Ủy ban Michael Lewis Cromartie nhận xét: “Tự do tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam
đã được mở rộng và có nhiều tiến bộ, nhiều điểm đáng khích lệ…”. Trong chuyến
thăm và làm việc tại Việt Nam, Thượng nghị sĩ Mỹ Jim Webb cũng đánh giá: “Cho
dù vẫn còn những quan điểm cá nhân về một vài vụ việc cụ thể liên quan đến tự
do tôn giáo tại Việt Nam, nhưng không thể phủ nhận những tiến bộ về tự do tôn
giáo tại Việt Nam,…”.
Cùng
với đó, ở Việt Nam, những tổ chức, cá nhân có thiện chí nào đều thấy, các lễ
hội tôn giáo và các hoạt động tín ngưỡng dân gian trở thành ngày hội chung của
toàn dân, lôi cuốn hàng vạn người tham gia và không chỉ là nhu cầu tâm linh của
các tín đồ, mà còn là nhu cầu sinh hoạt văn hóa của toàn dân. Nhu cầu chính
đáng ấy được chính quyền các cấp tạo điều kiện thuận lợi, làm cho tín đồ, chức
sắc các tôn giáo yên tâm, phấn khởi, ngày càng tin tưởng vào chính sách đối với
tôn giáo của Nhà nước. Những cơ sở thờ tự của các tôn giáo luôn được Nhà nước
quan tâm, cho phép tu bổ, sửa chữa và xây dựng mới,… đã trở thành danh thắng
nổi tiếng, đang thu hút khách du lịch trong và ngoài nước đến chiêm ngưỡng. Vì
thế, ở Việt Nam, tín đồ và chức sắc các tôn giáo đã và đang yên tâm hành đạo,
gắn bó với quốc gia, dân tộc theo đường hướng: “Ðạo pháp, dân tộc và chủ nghĩa
xã hội”, thực hiện “sống phúc âm giữa lòng dân tộc”, “nước vinh, đạo sáng”, với
tấm lòng “kính Chúa yêu nước”, vừa hoàn thành trách nhiệm, nghĩa vụ của công
dân đối với Tổ quốc, vừa làm tròn bổn phận của một tín đồ đối với tôn giáo.
Hàng chục triệu tín đồ các tôn giáo khác nhau đã, đang và tiếp tục cùng nhau và
cùng toàn dân tìm thấy sự tương đồng, mẫu số chung ở mục tiêu phấn đấu cho: Dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đó là điều không thể phủ nhận.
Đi
đôi với tôn trọng, đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, pháp
luật của Việt Nam cũng nghiêm cấm và ngăn chặn, xử lý nghiêm minh mọi hành vi
lợi dụng tôn giáo để phá hoại độc lập và đoàn kết dân tộc, chống phá đất nước,
ngăn cản các tín đồ thực hiện nghĩa vụ công dân, làm tổn hại đến lợi ích của
quốc gia, dân tộc và nhân dân. Cũng như mọi quốc gia trên thế giới, Nhà nước
Việt Nam không cho phép bất kỳ tôn giáo nào được phép đứng ngoài luật pháp,
đứng ngoài dân tộc, đứng trên lợi ích quốc gia. Một yêu cầu khách quan đặt ra
trong đời sống tôn giáo ở Việt Nam, là các tôn giáo muốn phát triển phải hòa
đồng với dòng chảy văn hóa của dân tộc, chịu sự quản lý của Nhà nước bằng Hiến
pháp và pháp luật. Và như thế, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo không phải là
quyền vô giới hạn, vì vượt qua phạm vi nào đó sẽ lại vi phạm vào quyền chính
đáng của những người khác. Tự do theo nghĩa chân chính là tự do của người này,
cộng đồng này không vi phạm đến tự do của người khác và cộng đồng khác. Chẳng
có quốc gia nào mà cá nhân và tổ chức tôn giáo được hoạt động ngoài vòng pháp
luật của quốc gia đó.
Trên
thực tế, hằng năm, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ
đều công bố Báo cáo tình hình tự do tôn giáo thế giới; trong đó, có nội dung
thiếu khách quan, thậm chí vu cáo, xuyên tạc tình hình tự do tôn giáo ở Việt
Nam. Và đầu năm 2018 cũng vậy. Họ cho rằng, Việt Nam vi phạm quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo của người dân; đòi trả tự do cho những đối tượng là chức sắc
tôn giáo vi phạm pháp luật; đòi trả lại đất đai cho các tôn giáo mà chính quyền
đã quốc hữu hóa, v.v. Họ xuyên tạc, kích động chức sắc, tín đồ tôn giáo trong
nước chống đối, gửi “thỉnh nguyện thư” lên các tổ chức “dân chủ”, “nhân quyền”
quốc tế đề nghị can thiệp, đòi Nhà nước Việt Nam trả tự do cho số đối tượng vi
phạm pháp luật bị chính quyền xử lý mà họ gọi là “tù nhân lương tâm”, trong đó
có một số chức sắc, chức việc, tín đồ cực đoan trong các tôn giáo câu kết với
các đối tượng phản động, cơ hội chính trị,… chống đối chính quyền, gây phức tạp
an ninh, trật tự, an toàn xã hội, v.v. Ai cũng biết, luật pháp Hoa Kỳ và các
bang nói riêng quy định rất rõ, xử lý rất nghiêm khắc đối với bất kể cá nhân
nào có hành vi danh xưng tôn giáo để tập hợp lực lượng, chống chính quyền. Vậy
thì hà cớ gì, những hành vi lợi dụng tự do tôn giáo để vi phạm pháp luật, chống
chính quyền của một số đối tượng ở Việt Nam, khi bị cơ quan tiến hành tố tụng
bắt, xử lý, lại bị Bộ Ngoại giao Mỹ đánh lận thành “đàn áp tôn giáo”? , cho
rằng, Nhà nước Việt Nam thực hiện chính sách kỳ thị tôn giáo, vi phạm quyền tự
do tín ngưỡng, tôn giáo là thiếu khách quan, cố tình xuyên tạc thực tế, có mục
đích xấu./.
HOA SÚNG
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét