Nghethuat2510
Thứ Ba, ngày 10 tháng 5 năm 2016
Thứ Hai, ngày 25 tháng
1 năm 2016
GỬI TIẾN SỸ VŨ DUY PHÚ
– LÊ ANH HÙNG!
Tôi là Chân lý, Blogger 19541975, vừa rồi có đọc một số bài viết của các
ông có nội dung xuyên tạc Đường lối, quan điểm của Đảng và công tác nhân sự Đại
hội XII của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó có đưa ra chính kiến của mình là
đề nghị người này rút, người kia lên, kích động mâu thuẫn trong nội bộ Đảng.
Theo sự nhìn nhận của Tôi, các ông chỉ là những người cơ hội chính trị, kém cỏi
về tư duy và logich chính trị, tại sao Tôi nói vậy?
Thứ nhất, các ông phải đọc và
hiểu rõ lịch sử ra đời và thành tựu của Đảng Cộng sản Việt Nam đem lại cho đất
nước và dân tộc này, đến người dân bình thường cũng hiểu được. Một ví dụ sinh
động Tôi nói lại để các ông sáng thêm cái đầu, tháng 8/2015 vừa qua tôi vào Sài
Gòn, tôi đi uống cà phê có hỏi một Bác gái: Cháu hỏi Bác chế độ ngụy quyền Sài
Gòn ngày xưa có gì ưu việt hơn chế độ ta bây giờ, mà một số ít người muốn tái
hiện lại chế độ Sài Gòn; các ông biết Bác gái nói gì không? Bác nói với cháu
rằng chế độ ta bây giờ sướng giơn, tự do, muốn làm thì làm, muốn ăn thì ăn,
muốn chơi thì chơi đời sống sướng lên nhiều, Bác quê ở Bến Cát - Bình Dương,
ban ngày Bố mẹ bắt Bác chạy vào rừng để tránh bom đạn, ban đêm mới cho Bác về,
cả cuộc đời của Bác không được học hành gì cả.
Thứ hai, ở Việt Nam quy chế
bầu cử rất chặt chẽ, dân chủ, được Hội đồng bầu cử chuẩn bị trên cơ sở Điều lệ
Đảng và cả tập thể Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương xem xét thì không có
chuyện bè phái phe cánh nào? Các ông cũng chỉ là những người cơ hội chính trị,
thấp hèn, kém cỏi. Nếu các ông có trình độ, năng lực thì đóng góp ý kiến cho sự
phát triển của đất nước, chứ các ông lại đi nói bậy, kêu gào để kiếm tiền sinh
nhai, các ông không thấy xấu hổ sao?
Thứ ba, các đồng chí trong Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương
là những đội ngũ có phẩm chất, năng lực, có uy tín, được các tổ chức Đảng giới
thiệu hết sức là dân chủ, công tâm, chính xác; còn một số đồng chí nhiệm kỳ
khóa XI xin nghỉ thì Đại hội cho nghỉ theo đề nghị, nguyện vọng cá nhân.
Thứ tư, Đại hội Đảng XII của
Cộng sản Việt Nam sẽ thành công rực rỡ và sẽ tiếp tục lãnh đạo đất nước Việt
Nam trên con đường phát triển, thực hiện thành công mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Chủ Nhật, ngày 24 tháng 1 năm 2016
BÙI TÍN TÊN CƠ HỘI CHÍNH TRỊ, BẤT TÀI VÔ DỤNG!
BÙI TÍN TÊN CƠ HỘI
CHÍNH TRỊ, BẤT TÀI VÔ DỤNG!
Bùi tín Ông là tên cơ hội chính trị, bất tài
vô dụng. Tôi nói để Ông thấy cái bất tài vô dụng của Ông: Đảng Cộng Sản Việt
Nam ra đời năm 1930 trong bối cảnh đất nước bị ngoại xâm, dân ta bị áp bức thì
không một lực lượng nào đảm đương lãnh đạo đất nước. Đảng Cộng sản Việt Nam đã
lãnh đạo dân tộc lật đổ ách thống trị phát xít Nhật và lần lượt đánh đổ giặc
ngoại xâm là Pháp; Mỹ; chiến tranh biên giới tây Nam và phía Bắc. Sau năm 1975 với
chính sách bao vây cấm vận của Mỹ và các nước phương tây Việt Nam; đồng thời ra
sức tài trợ tiền bạc cho hàng trăm tổ chức phản động về nước chống phá,
nhằm lật đổ chế độ XHCN. Trong lúc bị các thế lực thù địch chống phá đất nước,
là con em nước Việt phải có trách nhiệm bảo vệ. Ngược lại, bản thân Ông được
Đảng, Nhà nước, Nhân dân nuôi dưỡng, đào tạo Ông, đáng lẽ ra Ông phải mang trí
tuệ cùng Đảng, Nhân dân xây dựng đất nước chống lại kẻ thù bên ngoài, nhưng Ông
nhìn thấy Liên Xô và các nước XHCN khủng hoảng, tan rã và cũng tưởng chế độ
XHCN Việt Nam cũng như thế. Vì vậy, tháng 9/1990 Ông sang Pháp và ở lại đó
luôn, quay 180 độ nói xấu Đảng Cộng Sản, Bác Hồ và hy vọng sau này như một
người hùng trở về để lãnh đạo đất nước. Nhưng Ông đã nhầm, cái nhầm tưởng của
Ông là do trình độ tư duy lý luận kém cỏi của Ông khi phân tích thời cuộc, ở
Việt Nam dân tộc Việt Nam không chấp nhận sự đô hộ của ngoại bang, điều này nếu
Ống thiếu kiến thức lịch sử thì tìm lịch sử Việt Nam đọc lại; mặt khác Ông là
tên vô đạo đức dám nói xấu Bác Hồ. Ở Việt Nam và trên thế giới mọi người rất
Kính trọng lãnh tụ Hồ Chí Minh với cống hiến của người và quốc tế đã trao những
giải thưởng cho Lãnh tụ Hồ Chí Minh thì Ông quá rõ. Tôi nói để Ông biết các
cháu Triều Tiên sang Việt Nam học tập các cháu nói: Ở Việt Nam các Bác có lãnh
tụ vĩ đại là Chủ tịch Hồ Chí Minh, còn ở Triều tiên có lãnh tụ vĩ đại Kim Nhật
Thành, nhưng Lãnh tụ Hồ Chí Minh của các Bác làm được cái điều mà Lãnh tụ Kim
Nhật Thành chúng cháu không làm được, đó là thống nhất đất nước, giang sơn thu
về một mối. Còn Ông cố mà nghĩ đi, nếu không nghĩ được Tôi nói cho Ông biết,
nếu Bác Hồ còn sống thì Tôi sẽ đề nghị Bác sẽ cho Ông làm nghề chuyên rửa chân
cho Bác và trả lương cao gấp 10 lần để Ông sống quãng đời còn lại, đỡ phải đi chửi
bậy để kiếm tiền sống ẩn dật, rồi đến lúc chết hồn ma của Ông biết về đâu? Tôi
nói để Ông sáng mắt ra là: Đại hội XII của Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ thành công
rực rỡ; Việt Nam tiếp tục vững bước trên con đường phát triển để xây dựng đất
nước giàu đẹp; Đảng Cộng sản Việt Nam muôn năm; Chủ tịch Hồ Chí Minh sống mãi
trong lòng người dân Việt Nam. Còn Bùi tín muôn đời vẫn là tên cơ hội chính
trị, tên bất tài vô dụng.
Thứ Bảy, ngày 07 tháng
11 năm 2015
LUẬN ĐIỂM “PHI CHÍNH TRỊ HÓA QUÂN ĐỘI Ở VIỆT NAM” LÀ PHẢN
ĐỘNG, LẠC HẬU, LỖI THỜI.
LUẬN ĐIỂM “PHI CHÍNH TRỊ HÓA QUÂN ĐỘI Ở VIỆT
NAM” LÀ PHẢN ĐỘNG, LẠC HẬU, LỖI THỜI. Lịch sử loài người từ khi xuất hiện giai
cấp và nhà nước, gắn liền với nó thì quân đội được tổ chức để bảo vệ giai cấp
và nhà nước đó và tất yếu quân đội mang bản chất giai cấp. Quân đội là công cụ
bạo lực vũ trang của nhà nước để bảo vệ thành quả mà lực lượng chính trị cầm
quyền có được qua các cuộc đấu tranh giành quyền lực. Lịch sử ra đời và phát
triển của các quân đội trên thế giới cho thấy, quân đội là một hiện tượng xã
hội mang tính lịch sử, là sản phẩm của cuộc đấu tranh giai cấp, mang bản chất
giai cấp sâu sắc, không có quân đội phi giai cấp, siêu giai cấp, quân đội trung
lập và càng không có quân đội chung chung. Quân đội mang bản chất của giai cấp
tổ chức xây dựng, giáo dục, rèn luyện và sử dụng nó. Mục tiêu, lý tưởng chiến
đấu của quân đội là phục vụ cho mục tiêu, lý tưởng của giai cấp đã tổ chức ra
nó. V.I. Lênin đã khẳng định: “Quân đội không thể và không nên trung lập. Không
lôi kéo quân đội vào chính trị, đó là khẩu hiệu của bọn tôi tớ, giả nhân, giả
nghĩa của giai cấp tư sản…”. Thực tiễn trên thế giới cho thấy, quân đội của bất
kỳ quốc gia nào cũng là một lực lượng chính trị quan trọng mà bất cứ nhà nước
nào, giai cấp cầm quyền nào cũng phải nắm lấy để bảo vệ quyền lợi chính trị và
kinh tế của mình. Lịch sử đã chứng kiến hàng nghìn vụ đảo chính trên thế giới
từ xưa đến nay và có những giai đoạn, đảo chính quân sự xảy ra như cơm bữa ở
châu Phi. Chỉ tính riêng ở Thái Lan, trong hơn 70 năm qua, quân đội đã thực
hiện 19 lần đảo chính và âm mưu đảo chính. Trong khoảng hơn một thập kỷ, từ
cuối những năm của thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21 (1990 - 2003), quân đội Mỹ và đồng
minh đã tiến hành bốn cuộc chiến tranh quy mô lớn chống lại các nước độc lập có
chủ quyền, bất chấp dư luận, luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc
(chiến tranh vùng Vịnh 1990-1991; chiến tranh Nam Tư 1999; chiến tranh
Apganixtan 2001 và chiến tranh Irắc 2003). Gần đây là việc quân đội Mỹ và NATO
tiến hành các cuộc chiến tranh hoặc can thiệp quân sự ở Trung Đông - Bắc Phi
nhằm lật đổ các chế độ “cứng đầu” và thiết lập chế độ mới theo Mỹ và phương
Tây. Vậy sao lại cho rằng quân đội “trung lập về chính trị” hoặc “không can
thiệp về chính trị”! Thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam cho thấy, Quân đội
nhân dân Việt Nam ra đời từ các phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng,
được Đảng ta và Bác Hồ kính yêu sáng lập và rèn luyện để giành và giữ chính
quyền cách mạng, nên quân đội ta là một lực lượng chính trị tin cậy của Đảng và
Nhà nước. Quân đội ta là lực lượng nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân
Việt Nam, là đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ, sẵn sàng chiến
đấu hy sinh “vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc
của nhân dân”. Gần 71 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Quân đội ta luôn
là lực lượng chính trị trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc và nhân dân.
ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN, CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT CỦA NHÀ
NƯỚC VIỆT NAM VỀ TÔN GIÁO, DÂN TỘC LÀ ĐÚNG ĐẮN PHÙ HỢP LỢI ÍCH QUỐC GIA, DÂN
TỘC.
ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN, CHÍNH SÁCH PHÁP
LUẬT CỦA NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VỀ TÔN GIÁO, DÂN TỘC LÀ ĐÚNG ĐẮN PHÙ HỢP LỢI ÍCH
QUỐC GIA, DÂN TỘC.
Hiện nay, các thế lực thù địch đang ra sức đẩy mạnh các hoạt
động lợi dụng tôn giáo để chống phá nhà nước ta, như: lập ra “Chính phủ Đề-ga”
lưu vong, “Chính phủ Khơ-me tự do”, kích động khuynh hướng ly khai dân tộc, đòi
thành lập các khu tự trị như “Vương quốc Mông” ở Tây Bắc, “Nhà nước Đề-ga độc
lập” ở Tây Nguyên, “Nhà nước Khơ-me - Crôm độc lập” ở Tây Nam Bộ, “Nhà nước Chăm
độc lập” ở Nam Trung Bộ. Chúng gắn vấn đề dân tộc với tôn giáo, sử dụng các
phần tử xấu trong các dân tộc và tôn giáo chống lại cách mạng. Hầu hết những
cuộc gây rối, bạo loạn ở các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ vừa qua đều
gắn với vấn đề tôn giáo, sử dụng tôn giáo làm phương tiện tập hợp lực lượng để
chống chính quyền. Đáng lo ngại là xuất hiện hiện tượng tín ngưỡng, tâm linh
mới mang nặng mê tín dị đoan, phát triển trong vùng đồng bào dân tộc
thiểu số khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên,... phá vỡ truyền thống văn hóa
bản địa và có ảnh hưởng đến an ninh chính trị và trật tự an toàn xã
hội, như: hoạt động của nhóm Dương Văn Mình, Pháp Luân Công,...
Một bộ phận chức sắc tôn giáo và giáo dân có tư tưởng cực
đoan, bị các thế lực thù địch, bọn phản động lưu vong ở nước ngoài và một số
phần tử cơ hội chính trị trong nước cấu kết thực hiện âm mưu dụ dỗ, mua chuộc
những người khiếu kiện, kích động họ tham gia biểu tình chống chính quyền; gắn
tôn giáo ở Việt Nam với vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” và ra sức đẩy mạnh các
hoạt động tuyên truyền, vu cáo Việt Nam không có dân chủ, nhân quyền, không có
tự do tôn giáo và chúng cho rằng Việt Nam có tình trạng đàn áp và bắt bỏ tù
những người hoạt động đấu tranh cho tự do tôn giáo, đấu tranh cho dân chủ, nhân
quyền, v.v.
Dựa trên những thông tin không đúng sự thật, bằng cái nhìn sai
lệch, định kiến của các thế lực chống phá cách mạng Việt Nam với những luận
điệu không mới nêu trên là những việc làm sai trái, không phù hợp với pháp luật
Việt Nam và Luật pháp quốc tế. Bởi lẽ, Việt Nam đã đạt được những tiến bộ trong
việc thực hiện đầy đủ các quyền con người, không vi phạm “Tuyên ngôn nhân
quyền” của thế giới. Việc bảo đảm tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam được
đặt trong tương quan hài hòa với những yếu tố lịch sử - văn hóa của dân tộc,
kết hợp với việc giữ vững an ninh quốc gia, chủ quyền dân tộc. Cũng như mọi dân
tộc khác trên thế giới, dân tộc Việt Nam có quyền tự do "quyết
định thể chế chính trị của mình và tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa" như
Phần mở đầu Công ước về các quyền dân sự và chính trị của Liên hợp quốc (Khoản
1, Ðiều 1) khẳng định. Bảo đảm quyền con người trở thành lý tưởng chung mà các
quốc gia, dân tộc cần đạt tới và là nền tảng của tự do, công lý, hòa bình trên
thế giới và Hiến pháp năm 2013
(Điều 24) khẳng định rõ: “Mọi người có quyền tự do ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc
không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước
tôn trọng và bảo hộ quyền tự do ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự
do ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”.
Từ những quan điểm, chính sách và hệ thống các văn bản pháp luật
trên, có thể khẳng định quyền tự do ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam được Đảng, Nhà
nước thừa nhận, tôn trọng và bảo hộ; từ đó, đã làm thay đổi căn bản đời sống
tôn giáo ở Việt Nam. Về sinh hoạt tôn giáo: tín đồ các tôn giáo
sinh hoạt tôn giáo bình thường tại gia đình và nơi thờ tự theo nghi lễ truyền
thống của tôn giáo mình. Một số sinh hoạt tôn giáo, nhất là những tôn giáo có phạm
vi địa phương trước đây không thực hiện được, những năm gần đây đều được hoạt
động; các hoạt động ngưỡng, tôn giáo ngày càng ổn định theo đúng hiến chương,
điều lệ tổ chức, bảo đảm tuân thủ pháp luật. Chính quyền các cấp tạo điều kiện
thuận lợi cho đồng bào theo các tôn giáo “đồng hành cùng dân tộc”, phát
huy giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo trong xây dựng đời sống văn
hóa ở khu dân cư; hướng dẫn, động viên tín đồ tích cực tham gia hoạt động xã
hội, từ thiện, thực hiện phương châm sống “tốt đời, đẹp đạo”,hưởng
ứng các phong trào thi đua yêu nước, góp phần xây dựng và phát triển kinh tế -
xã hội ở địa phương, qua đó mở rộng uy tín, ảnh hưởng của tôn giáo mình. Về
tổ chức tôn giáo: trước năm 1986, chỉ có 03 tổ chức, đến nay đã có 37 tổ
chức và 01 pháp môn tu hành được Nhà nước công nhận và cấp đăng ký hoạt
động. Về việc mở trường đào tạo chức sắc: trước đổi mới, chỉ
có một số lớp của Phật giáo, Công giáo. Hiện nay, riêng Phật giáo có 04 học
viện, 08 trường cao đẳng, 32 trường trung cấp; Công giáo có 07 Đại chủng viện
và 01 phân hiệu; Tin lành có 02 Viện Thánh kinh thần học và Học viện Thần
học,… Về xây dựng, sửa chữa nơi thờ tự: trước đổi mới, hầu như
không có hoạt động này. Hiện nay, hầu hết các cơ sở thờ tự của các tôn giáo
(hơn 20.000 cơ sở - chiếm 80%) được sửa chữa, trong đó 1/3 được trùng tu sửa
chữa quy mô lớn, đồng thời có khoảng 2.000 cơ sở thờ tự được xây mới.
Là thành viên có trách nhiệm của Liên hợp quốc và cộng đồng thế
giới, Việt Nam luôn chia sẻ, tôn trọng các yêu cầu và cam kết quốc tế về nhân
quyền nói trên. Thực tế lịch sử Việt Nam cũng cho thấy, nhiều tổ chức tôn giáo
và hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo luôn đồng hành cùng dân tộc trong cuộc đấu
tranh chống lại áp bức, bất công, giành lại nền độc lập dân tộc, và ngày nay
đang nỗ lực xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Từ thực tế về tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam chúng ta bác bỏ
hoàn toàn những thông tin sai lệch, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù
địch với cách mạng Việt Nam, thông qua chiến lược “Diễn biến hoà bình” đã lợi
dụng vấn đề “dân tộc”, “tôn giáo” để gây bất ổn về an ninh chính trị, trật tự,
an toàn xã hội, chống phá Đảng và Nhà nước ta, phục vụ cho âm mưu sử dụng tôn
giáo làm lực lượng thúc đẩy nhanh tiến trình “dân chủ hoá” theo kiểu phương Tây
nhằm làm thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam. Vì vậy, trong tình hình hiện
nay, các cơ quan chức năng, nòng cốt là cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo ở
các cấp cần phát huy tốt hơn nữa vai trò, trách nhiệm của mình, chủ động thông
tin, hướng dẫn, tuyên truyền để các tổ chức, cá nhân tôn giáo ở trong và ngoài
nước hiểu và thực hiện đúng chính sách tôn giáo ở Việt Nam; kịp thời vạch trần
âm mưu, thủ đoạn, hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch, loại bỏ những
cách nhìn thiếu khách quan về tình hình tôn giáo ở Việt Nam, góp phần tăng
cường củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, tạo sức mạnh của đất nước, thực hiện
thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Thứ Năm, ngày 10 tháng 9 năm 2015
KHẲNG ĐỊNH VAI TRÒ LÃNH ĐẠO DUY NHẤT CỦA
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Lịch sử
lập hiến Việt Nam đã trải qua những bước ngoặt to lớn cùng với sự ra đời của
các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001). Hiến pháp năm 1992
đã tạo cơ sở chính trị - pháp lý quan trọng cho việc thực hiện công cuộc đổi
mới. Qua 20 năm thực hiện Hiến pháp năm 1992, đất nước ta đã đạt được những
thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Thành tựu đó có vai trò lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam, đã lãnh đạo nhân dân tiến hành Cách mạng Tháng Tám
thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (nay là nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam), đánh thắng các cuộc chiến tranh xâm lược, xoá bỏ chế độ
thực dân, phong kiến, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất
nước, tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững
chắc nền độc lập của Tổ quốc.
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng, các thế
lực thù địch luôn chĩa mũi nhọn của chúng vào việc chống phá Đảng. Vì vậy, sự
thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng như trong điều 4 của Hiến pháp là cơ sở
pháp lý để chống lại sự xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng, chia rẽ Đảng với
nhân dân, kích động nhân dân chống lại Đảng hòng mưu toan lật đổ chính quyền
cách mạng, thay đổi chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Hiện nay, đất nước
ta đã có nhiều thay đổi, tình hình quốc tế đang có những diễn biến phức tạp và
sâu sắc. Việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 cho phù hợp với tình hình mới
là rất cần thiết.
Một trong những nội dung quan trọng
của Chương I (Chế độ chính trị) được xác định trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp
năm 1992 đã khẳng định rõ vị trí, vai trò, trách nhiệm của Đảng Cộng sản Việt
Nam.
Điều 4 (sửa đổi, bổ sung Điều 4)
1. Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp
công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc
Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao
động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền
tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
2. Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân,
chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết
định của mình.
3. Các
tổ chức của Đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
Tuy nhiên, qua nghiên cứu và từ thực tiễn Tôi thấy, vẫn
còn thiếu và chưa đầy đủ, cần thêm và bổ sung một số cụm từ ở Điều 4 sửa đổi
Hiến pháp năm 1992 như sau:
Một là, Tại Khoản 1, Điều 4, đề nghị bổ sung thêm cụm từ “duy nhất” vào câu: “ Đảng Cộng sản Việt Nam, đội
tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao
động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công
nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã
hội.”
Hai là, thêm
Khoản 2, Điều 4, chỉ rõ mục đích lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam để nhân dân và các tầng lớp xã hội hiểu rõ mục đích lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam là xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu
mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn người bóc lột người, thực hiện
thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản. Mục đích đó phù
hợp với nguyện vọng, ý chí của quần chúng nhân dân. Đồng thời, chống lại sự
xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch muốn xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Ba là, Khoản 2, đưa xuống thành Khoản 3.
Bốn là. Khoản 3, đưa xuống thành Khoản 4. Cụ thể bổ sung và sửa đổi như sau:
1. Đảng Cộng sản
Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong
của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của
giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác -
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng duy nhấtlãnh đạo Nhà nước
và xã hội.
2. Mục đích của Đảng là xây dựng
nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không
còn người bóc lột người, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là
chủ nghĩa cộng sản.
3. Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân,
chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết
định của mình .
4. Các tổ chức của Đảng và đảng viên hoạt động trong
khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
Như vậy, 4 Khoản trong Điều 3 đã khẳng định được Đảng là
đội tiên phong của của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu
trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân
tộc. Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư
tưởng, đó là hệ tư tưởng cách mạng khoa học và đã khẳng định rõ Đảng Cộng sản
Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
Để thực hiện mục đích của Đảng, là
xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh,
không còn người bóc lột người, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối
cùng là chủ nghĩa cộng sản. Đảng phải gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ
nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về
những quyết định của mình. Đồng thời, Đảng (các tổ chức của Đảng và đảng viên)
phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
Được khẳng định vai trò duy nhất lãnh đạo nhà nước và xã
hội của Đảng Cộng sản Việt Nam trong Hiến pháp, chắc chắn sẽ khuyến khích, động
viên và bảo đảm cho Đảng thực hiện và hoàn thành xuất sắc vai trò lãnh đạo của
mình.
Thứ Bảy, ngày 13 tháng 6 năm 2015
QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC- LÊ – NIN VỀ ĐẤU TRANH GIAI
CẤP VẪN CÒN NGUYÊN GIÁ TRỊ
QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ
NGHĨA MÁC- LÊ – NIN VỀ ĐẤU TRANH GIAI CẤP VẪN CÒN NGUYÊN GIÁ TRỊ
Như
chúng ta biết, phát hiện ra vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp không phải là
công lao của Mác. Trong thư gửi Vây-đơ-mai-ơ ngày 5-3-1852, Mác viết:
"...Tôi không có công lao là đã phát hiện ra sự tồn tại của các giai cấp
trong xã hội hiện đại, cũng không có công lao là đã phát hiện ra cuộc đấu tranh
giữa các giai cấp với nhaụ Các nhà sử học tư sản trước tôi rất lâu đã trình bày
sự phát triển lịch sử của cuộc đấu tranh giai cấp đó, còn các nhà kinh tế học
tư sản thì đã trình bày sự giải phẫu kinh tế của các giai cấp. Cái mới mà tôi
đã làm là chứng minh rằng: 1- Sự tồn tại của các giai cấp chỉ gắn với những
giai đoạn phát triển lịch sử nhất định của sản xuất; 2- Đấu tranh giai cấp tất
yếu dẫn đến chuyên chính vô sản; 3- Bản thân nền chuyên chính này chỉ là bước
quá độ tiến tới thủ tiêu mọi giai cấp và tiến tới xã hội không có giai
cấp" (1).
Như vậy, Mác không coi
đấu tranh giai cấp là động lực phát triển của xã hội nói chung như một số người
quan niệm, mà chỉ là một động lực phát triển của xã hội có đối kháng giai cấp
mà thôi. Trong xã hội cộng sản nguyên thủy chưa có giai cấp nên chưa có đấu
tranh giai cấp, và sau này trong tương lai, khi xã hội không còn phân chia giai
cấp nữa thì cũng không còn đấu tranh giai cấp. Nghĩa là như Mác đã khẳng định,
đấu tranh giai cấp chỉ gắn với những giai đoạn lịch sử nhất định của sự phát
triển xã hộị
Quan điểm khoa học về
giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác không phải là áp đặt, bịa đặt
mà phản ánh một thực tế khách quan trong xã hội có phân chia giai cấp, đó là sự
đối kháng giữa các giai cấp: Bóc lột và bị bóc lột, thống trị và bị trị, áp bức
và bị áp bức. Do đó, đấu tranh giai cấp trong các xã hội này là tất yếu khách
quan, góp phần thúc đẩy cho xã hội vận động, phát triển lên những hình thái cao
hơn.
Tuy nhiên, chủ nghĩa
Mác không bao giờ coi đấu tranh giai cấp là động lực duy nhất trong xã hội có
giai cấp. Ngoài động lực này, như Mác đã từng chỉ ra, còn một loạt những động
lực khác như: Sự phát triển của lực lượng sản xuất, nhu cầu, lợi ích, lý tưởng,
khoa học-kỹ thuật v.v..
Đồng thời, việc nhận
thức và giải quyết vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp phải phù hợp với tình
hình thực tiễn, điều kiện lịch sử, cụ thể của mỗi quốc gia dân tộc và phù hợp
với từng giai đoạn của cách mạng. Trước đây khi phân tích so sánh về đấu tranh
giai cấp ở các nước phương Tây và phương Đông, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cho rằng
ở phương Tây, đấu tranh giai cấp rất quyết liệt, còn ở phương Đông, những nước
như "Ấn Độ hay Trung Quốc về mặt cấu trúc kinh tế, không giống các xã hội
phương Tây thời Trung cổ cũng như thời cận đại, và đấu tranh giai cấp ở đó
không quyết liệt như ở đây"(2). Đối với Việt Nam cũng vậy, vì Việt Nam vốn
là một xã hội phương Đông cổ truyền, nông nghiệp lạc hậu, hơn 90% là nông dân,
phân hóa giai cấp chưa sâu sắc. Từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, yêu cầu
đoàn kết dân tộc nổi lên hàng đầu để tập hợp các lực lượng, các giai cấp, các
tầng lớp trong xã hội nhằm thực hiện nhiệm vụ cứu nước, giải phóng dân tộc. Vì
vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phê phán quan điểm giáo điều của một số người về
đấu tranh giai cấp ở Việt Nam: "Nghe người ta nói giai cấp đấu tranh, mình
cũng ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh, mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế
nào để làm cho đúng"(3).
Ở đây không được phép
lẫn lộn quan điểm khoa học về đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác - Lê-nin với
quan điểm hữu khuynh phủ nhận đấu tranh giai cấp hoặc quan điểm tả khuynh cường
điệu đấu tranh giai cấp, thiên về trấn áp bạo lực, hoặc mượn danh đấu tranh
giai cấp để đấu tố trấn áp những người không ăn cánh, không theo đường lối của
mình, có tính chất bè phái như đã từng xảy ra ở một số nước xã hội chủ nghĩa
trước đâỵ
Trong
thời kỳ đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có những nhận thức mới về chuyên
chính vô sản và đấu tranh giai cấp. Hội nghị Trung ương 6 khóa VI (3-1989), lần
đầu tiên đã sử dụng khái niệm "hệ thống chính trị" thay cho khái niệm
"hệ thống chuyên chính vô sản". Từ đó về sau, trong Cương lĩnh năm
1991 và Cương lĩnh 2011, trong các văn kiện từ Đại hội VII đến Đại hội XI ít sử
dụng thuật ngữ "chuyên chính vô sản". Đây là một bước tiến của nhận
thức, phù hợp hơn với điều kiện tình hình mớị
Về đấu tranh giai cấp,
Đại hội IX của Đảng nhận định, cùng với những biến đổi to lớn về kinh tế, xã
hội thì cơ cấu, tính chất, vị trí của các giai cấp trong xã hội ta đã thay đổi
nhiềụ Mối quan hệ giữa các giai cấp, các tầng lớp xã hội là quan hệ hợp tác và
đấu tranh trong nội bộ nhân dân, đoàn kết và hợp tác lâu dài trong sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nội dung chủ yếu của đấu
tranh giai cấp trong giai đoạn hiện nay là thực thiện thắng lợi sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa, khắc phục tình trạng
nước nghèo, kém phát triển, thực hiện công bằng xã hội, chống áp bức, bất công;
đấu tranh ngăn chặn và khắc phục những tư tưởng và hành động tiêu cực; đấu
tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch;
bảo vệ độc lập dân tộc, xây dựng nước ta thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn
vinh, nhân dân hạnh phúc.
Đại hội IX cũng xác
định động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân tộc trên
cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết
hợp hài hòa các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và
nguồn lực của các thành phần kinh tế toàn xã hộị
Như vậy, Đảng ta không
phủ nhận đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ, song quan niệm đấu tranh giai
cấp cũng như động lực phát triển đất nước phù hợp hơn với sự thay đổi về kinh
tế, chính trị, xã hội của đất nước, với nhiệm vụ của cách mạng trong thời kỳ
đổi mớị
(1). C.Mác và
Ph.Ăngghen: Toàn tập, tập 28, Nxb CTQG, HN, 1996, tr.661-662.
(2). Hồ Chí Minh: Toàn
tập, tập 1, Nxb CTQG, 2011, tr.508, 509.
(3). Hồ Chí Minh: Toàn
tập, tập 5, HN, Nxb CTQG, 2011, tr.312.
Chân lý
Gần đây tôi có đọc một số bài đăng blogger cá nhân, một số người
kiến nghị với Đảng ta từ bỏ con đường xây dựng CNXH, chuyển sang đường lối dân
tộc và dân tộc chủ nghĩa. Kiến nghị đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.
Trước hết, với tư cách cá nhân khẳng định rằng con đường tiến lên xây dựng CNXH
là hoàn toàn đúng đắn, là nguyện vọng của toàn thể dân tộc Việt Nam. Bởi vì,
năm 1930 trong cương lĩnh chính trị thành lập Đảng đã khẳng định con đường này,
nó phù hợp với nguyện vọng của nhân dân và được nhân dân theo Đảng hoàn thành
nhiệm vụ giải phóng dân tộc. Thứ hai, thành tựu Đảng ta lãnh đạo dân tộc đạt
được như ngày hôm nay là rất to lớn: Đánh thắng các thế lực xâm lược lớn mạnh,
bị cấm vận về kinh tế, cô lập về ngoại giao, nhưng Đảng đã kiên trì Đường lối
đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ quốc tế,
buộc Mỹ phải bãi bỏ cấm vận kinh tế, bình thường hóa qua hệ với Việt Nam. Như
vậy, Đảng ta lãnh đạo toàn dân khởi nghĩa giành chính quyền, đánh thắng 2 cuộc
chiến tranh xâm lược của Pháp và Mỹ (1945-1975); cuộc chiến tranh biên giới tây
nam 1978, phía bắc năm 1979, xây dựng đất nước đạt được thành tựu to lớn về mọi mặt. To lớn
thể hiện là chúng ta xây dựng đất nước thuận tiện mới chỉ có từ năm 1995 (sau
khi Mỹ bãi bỏ cấm vận), chưa đầy 20 năm, mà thành tựu đạt được như vậy phải là
kỳ tích. Nếu như đất nước không bị xâm lược mà Đảng lãnh đạo có hàng trăm năm
hòa bình để xây dựng đất nước thì thành tựu chắc chắn to lớn hơn nhiều. Vậy,
làm gì phải từ bỏ con đường XHCN, làm gì phải đa nguyên chính trị, đa đảng đối
lập. Một minh chứng còn sống động như nước Ucraina sau khi tách khỏi Liên bang
Xô Viết năm 1991, từ bỏ thể chế XHCN, theo con đường trung lập nhưng đến nay
đất nước khủng hoảng triền miên, lạm phát tăng cao, xung đột phe phái, nhân dân
khổ cực,…điều đó nói nên rằng không phải đa đảng là tốt. Bởi vậy, thay vì kêu gọi thành lập đảng
phái đối lập với Đảng Cộng sản để được dân chủ hơn, tôi nghĩ các
người nên hành động cụ thể, thiết thực, nghiên cứu đề xuất những ý kiến hay hợp
lòng dân ý Đảng để hiện thực hóa mục tiêu mà Đảng đã đề ra, vì lợi ích dân tộc
và nhân dân thì tốt hơn.
Đăng
ký: Bài đăng (Atom)
Giới thiệu bản
thân
Lưu trữ Blog
Đăng
ký: Bài đăng (Atom)
Giới thiệu bản
thân
Lưu trữ Blog
|
|
|
Mẫu Simple. Cung cấp
bởi Blogger.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét