Thứ Tư, 8 tháng 6, 2016

 ĐỀ CAO CẢNH GIÁC TRƯỚC NHỮNG LUẬN ĐIỆU CỦA CÁC THẾ  LỰC PHẢN ĐỘNG CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM HIỆN NAY

 Hiện nay, các thế lực thù địch đang ra sức đẩy mạnh các hoạt động lợi dụng tôn giáo để chống phá nhà nước ta, như: lập ra “Chính phủ Đề-ga” lưu vong, “Chính phủ Khơ-me tự do”, kích động khuynh hướng ly khai dân tộc, đòi thành lập các khu tự trị như “Vương quốc Mông” ở Tây Bắc, “Nhà nước Đề-ga độc lập” ở Tây Nguyên, “Nhà nước Khơ-me - Crôm độc lập” ở Tây Nam Bộ, “Nhà nước Chăm độc lập” ở Nam Trung Bộ. Chúng gắn vấn đề dân tộc với tôn giáo, sử dụng các phần tử xấu trong các dân tộc và tôn giáo chống lại cách mạng. Hầu hết những cuộc gây rối, bạo loạn ở các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ vừa qua đều gắn với vấn đề tôn giáo, sử dụng tôn giáo làm phương tiện tập hợp lực lượng để chống chính quyền.
Đáng lo ngại là xuất hiện hiện tượng tín ngưỡng, tâm linh mới mang nặng mê tín dị đoan, phát triển trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên,... phá vỡ truyền thống văn hóa bản địa và có ảnh hưởng đến an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, như: hoạt động của nhóm Dương Văn Mình, Pháp Luân Công,... Một bộ phận chức sắc tôn giáo và giáo dân có tư tưởng cực đoan, bị các thế lực thù địch, bọn phản động lưu vong ở nước ngoài và một số phần tử cơ hội chính trị trong nước cấu kết thực hiện âm mưu dụ dỗ, mua chuộc những người khiếu kiện, kích động họ tham gia biểu tình chống chính quyền; gắn tôn giáo ở Việt Nam với vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” và ra sức đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, vu cáo Việt Nam không có dân chủ, nhân quyền, không có tự do tôn giáo và chúng cho rằng Việt Nam có tình trạng đàn áp và bắt bỏ tù những người hoạt động đấu tranh cho tự do tôn giáo, đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền, v.v.
Dựa trên những thông tin không đúng sự thật, bằng cái nhìn sai lệch, định kiến của các thế lực chống phá cách mạng Việt Nam với những luận điệu không mới nêu trên là những việc làm sai trái, không phù hợp với pháp luật Việt Nam và Luật pháp quốc tế. Bởi lẽ, Việt Nam đã đạt được những tiến bộ trong việc thực hiện đầy đủ các quyền con người, không vi phạm “Tuyên ngôn nhân quyền” của thế giới. Việc bảo đảm tự do tín ngướng, tôn giáo ở Việt Nam được đặt trong tương quan hài hòa với những yếu tố lịch sử - văn hóa của dân tộc, kết hợp với việc giữ vững an ninh quốc gia, chủ quyền dân tộc.
Cũng như mọi dân tộc khác trên thế giới, dân tộc Việt Nam có quyền tự do "quyết định thể chế chính trị của mình và tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa" như Phần mở đầu Công ước về các quyền dân sự và chính trị của Liên hợp quốc (Khoản 1, Ðiều 1) khẳng định. Bảo đảm quyền con người trở thành lý tưởng chung mà các quốc gia, dân tộc cần đạt tới và là nền tảng của tự do, công lý, hòa bình trên thế giới. Là thành viên có trách nhiệm của Liên hợp quốc và cộng đồng thế giới, Việt Nam luôn chia sẻ, tôn trọng các yêu cầu và cam kết quốc tế về nhân quyền nói trên. Thực tế lịch sử Việt Nam cũng cho thấy, nhiều tổ chức tôn giáo và hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo luôn đồng hành cùng dân tộc trong cuộc đấu tranh chống lại áp bức, bất công, giành lại nền độc lập dân tộc, và ngày nay đang nỗ lực xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Trong tình hình hiện nay, các cơ quan chức năng, nòng cốt là cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo ở các cấp cần phát huy tốt hơn nữa vai trò, trách nhiệm của mình, chủ động thông tin, hướng dẫn, tuyên truyền để các tổ chức, cá nhân tôn giáo ở trong và ngoài nước hiểu và thực hiện đúng chính sách tôn giáo ở Việt Nam; kịp thời vạch trần âm mưu, thủ đoạn, hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch, góp phần loại bỏ những cách nhìn thiếu khách quan về tình hình tôn giáo ở Việt Nam.
                                                                    Chân lý 15 tháng 5 năm 2016
GỬI TIẾN SỸ VŨ DUY PHÚ – LÊ ANH HÙNG!
Tôi là Chân lý, Blogger 19541975, vừa rồi có đọc một số bài viết của các ông có nội dung xuyên tạc Đường lối, quan điểm của Đảng và công tác nhân sự Đại hội XII của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó có đưa ra chính kiến của mình là đề nghị người này rút, người kia lên, kích động mâu thuẫn trong nội bộ Đảng. Theo sự nhìn nhận của Tôi, các ông chỉ là những người cơ hội chính trị, kém cỏi về tư duy và logich chính trị, tại sao Tôi nói vậy?
Thứ nhất, các ông phải đọc và hiểu rõ lịch sử ra đời và thành tựu của Đảng Cộng sản Việt Nam đem lại cho đất nước và dân tộc này, đến người dân bình thường cũng hiểu được. Một ví dụ sinh động Tôi nói lại để các ông sáng thêm cái đầu, tháng 8/2015 vừa qua tôi vào Sài Gòn, tôi đi uống cà phê có hỏi một Bác gái: Cháu hỏi Bác chế độ ngụy quyền Sài Gòn ngày xưa có gì ưu việt hơn chế độ ta bây giờ, mà một số ít người muốn tái hiện lại chế độ Sài Gòn; các ông biết Bác gái nói gì không? Bác nói với cháu rằng chế độ ta bây giờ sướng giơn, tự do, muốn làm thì làm, muốn ăn thì ăn, muốn chơi thì chơi đời sống sướng lên nhiều, Bác quê ở Bến Cát - Bình Dương, ban ngày Bố mẹ bắt Bác chạy vào rừng để tránh bom đạn, ban đêm mới cho Bác về, cả cuộc đời của Bác không được học hành gì cả.
Thứ hai, ở Việt Nam quy chế bầu cử rất chặt chẽ, dân chủ, được Hội đồng bầu cử chuẩn bị trên cơ sở Điều lệ Đảng và cả tập thể Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương xem xét thì không có chuyện bè phái phe cánh nào? Các ông cũng chỉ là những người cơ hội chính trị, thấp hèn, kém cỏi. Nếu các ông có trình độ, năng lực thì đóng góp ý kiến cho sự phát triển của đất nước, chứ các ông lại đi nói bậy, kêu gào để kiếm tiền sinh nhai, các ông không thấy xấu hổ sao?  
Thứ ba, các đồng chí trong Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương là những đội ngũ có phẩm chất, năng lực, có uy tín, được các tổ chức Đảng giới thiệu hết sức là dân chủ, công tâm, chính xác; còn một số đồng chí nhiệm kỳ khóa XI xin nghỉ thì Đại hội cho nghỉ theo đề nghị, nguyện vọng cá nhân.
Thứ tư, Đại hội Đảng XII của Cộng sản Việt Nam sẽ thành công rực rỡ và sẽ tiếp tục lãnh đạo đất nước Việt Nam trên con đường phát triển, thực hiện thành công mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.


Được đăng bởi 19541975 vào lúc 19:07 Không có nhận xét nào: Description: C:\Users\Administrator\Desktop\19541975.blogspot.com_files\icon18_edit_allbkg.gif
Chủ Nhật, ngày 24 tháng 1 năm 2016
     BÙI TÍN TÊN CƠ HỘI CHÍNH TRỊ, BẤT TÀI VÔ DỤNG!

Bùi tín Ông là tên cơ hội chính trị, bất tài vô dụng. Tôi nói để Ông thấy cái bất tài vô dụng của Ông: Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời năm 1930 trong bối cảnh đất nước bị ngoại xâm, dân ta bị áp bức thì không một lực lượng nào đảm đương lãnh đạo đất nước. Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo dân tộc lật đổ ách thống trị phát xít Nhật và lần lượt đánh đổ giặc ngoại xâm là Pháp; Mỹ; chiến tranh biên giới tây Nam và phía Bắc. Sau năm 1975 với chính sách bao vây cấm vận của Mỹ và các nước phương tây Việt Nam; đồng thời ra sức  tài trợ tiền bạc cho hàng trăm tổ chức phản động về nước chống phá, nhằm lật đổ chế độ XHCN. Trong lúc bị các thế lực thù địch chống phá đất nước, là con em nước Việt phải có trách nhiệm bảo vệ. Ngược lại, bản thân Ông được Đảng, Nhà nước, Nhân dân nuôi dưỡng, đào tạo Ông, đáng lẽ ra Ông phải mang trí tuệ cùng Đảng, Nhân dân xây dựng đất nước chống lại kẻ thù bên ngoài, nhưng Ông nhìn thấy Liên Xô và các nước XHCN khủng hoảng, tan rã và cũng tưởng chế độ XHCN Việt Nam cũng như thế. Vì vậy, tháng 9/1990 Ông sang Pháp và ở lại đó luôn, quay 180 độ nói xấu Đảng Cộng Sản, Bác Hồ và hy vọng sau này như một người hùng trở về để lãnh đạo đất nước. Nhưng Ông đã nhầm, cái nhầm tưởng của Ông là do trình độ tư duy lý luận kém cỏi của Ông khi phân tích thời cuộc, ở Việt Nam dân tộc Việt Nam không chấp nhận sự đô hộ của ngoại bang, điều này nếu Ống thiếu kiến thức lịch sử thì tìm lịch sử Việt Nam đọc lại; mặt khác Ông là tên vô đạo đức dám nói xấu Bác Hồ. Ở Việt Nam và trên thế giới mọi người rất Kính trọng lãnh tụ Hồ Chí Minh với cống hiến của người và quốc tế đã trao những giải thưởng cho Lãnh tụ Hồ Chí Minh thì Ông quá rõ. Tôi nói để Ông biết các cháu Triều Tiên sang Việt Nam học tập các cháu nói: Ở Việt Nam các Bác có lãnh tụ vĩ đại là Chủ tịch Hồ Chí Minh, còn ở Triều tiên có lãnh tụ vĩ đại Kim Nhật Thành, nhưng Lãnh tụ Hồ Chí Minh của các Bác làm được cái điều mà Lãnh tụ Kim Nhật Thành chúng cháu không làm được, đó là thống nhất đất nước, giang sơn thu về một mối. Còn Ông cố mà nghĩ đi, nếu không nghĩ được Tôi nói cho Ông biết, nếu Bác Hồ còn sống thì Tôi sẽ đề nghị Bác sẽ cho Ông làm nghề chuyên rửa chân cho Bác và trả lương cao gấp 10 lần để Ông sống quãng đời còn lại, đỡ phải đi chửi bậy để kiếm tiền sống ẩn dật, rồi đến lúc chết hồn ma của Ông biết về đâu? Tôi nói để Ông sáng mắt ra là: Đại hội XII của Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ thành công rực rỡ; Việt Nam tiếp tục vững bước trên con đường phát triển để xây dựng đất nước giàu đẹp; Đảng Cộng sản Việt Nam muôn năm; Chủ tịch Hồ Chí Minh sống mãi trong lòng người dân Việt Nam. Còn Bùi tín muôn đời vẫn là tên cơ hội chính trị, tên bất tài vô dụng. 
Được đăng bởi 19541975 vào lúc 01:30 Không có nhận xét nào: Description: C:\Users\Administrator\Desktop\19541975.blogspot.com_files\icon18_edit_allbkg.gif
Thứ Bảy, ngày 07 tháng 11 năm 2015
LUẬN ĐIỂM “PHI CHÍNH TRỊ HÓA QUÂN ĐỘI Ở VIỆT NAM” LÀ PHẢN ĐỘNG, LẠC HẬU, LỖI THỜI. Lịch sử loài người từ khi xuất hiện giai cấp và nhà nước, gắn liền với nó thì quân đội được tổ chức để bảo vệ giai cấp và nhà nước đó và tất yếu quân đội mang bản chất giai cấp. Quân đội là công cụ bạo lực vũ trang của nhà nước để bảo vệ thành quả mà lực lượng chính trị cầm quyền có được qua các cuộc đấu tranh giành quyền lực. Lịch sử ra đời và phát triển của các quân đội trên thế giới cho thấy, quân đội là một hiện tượng xã hội mang tính lịch sử, là sản phẩm của cuộc đấu tranh giai cấp, mang bản chất giai cấp sâu sắc, không có quân đội phi giai cấp, siêu giai cấp, quân đội trung lập và càng không có quân đội chung chung. Quân đội mang bản chất của giai cấp tổ chức xây dựng, giáo dục, rèn luyện và sử dụng nó. Mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội là phục vụ cho mục tiêu, lý tưởng của giai cấp đã tổ chức ra nó. V.I. Lênin đã khẳng định: “Quân đội không thể và không nên trung lập. Không lôi kéo quân đội vào chính trị, đó là khẩu hiệu của bọn tôi tớ, giả nhân, giả nghĩa của giai cấp tư sản…”. Thực tiễn trên thế giới cho thấy, quân đội của bất kỳ quốc gia nào cũng là một lực lượng chính trị quan trọng mà bất cứ nhà nước nào, giai cấp cầm quyền nào cũng phải nắm lấy để bảo vệ quyền lợi chính trị và kinh tế của mình. Lịch sử đã chứng kiến hàng nghìn vụ đảo chính trên thế giới từ xưa đến nay và có những giai đoạn, đảo chính quân sự xảy ra như cơm bữa ở châu Phi. Chỉ tính riêng ở Thái Lan, trong hơn 70 năm qua, quân đội đã thực hiện 19 lần đảo chính và âm mưu đảo chính. Trong khoảng hơn một thập kỷ, từ cuối những năm của thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21 (1990 - 2003), quân đội Mỹ và đồng minh đã tiến hành bốn cuộc chiến tranh quy mô lớn chống lại các nước độc lập có chủ quyền, bất chấp dư luận, luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc (chiến tranh vùng Vịnh 1990-1991; chiến tranh Nam Tư 1999; chiến tranh Apganixtan 2001 và chiến tranh Irắc 2003). Gần đây là việc quân đội Mỹ và NATO tiến hành các cuộc chiến tranh hoặc can thiệp quân sự ở Trung Đông - Bắc Phi nhằm lật đổ các chế độ “cứng đầu” và thiết lập chế độ mới theo Mỹ và phương Tây. Vậy sao lại cho rằng quân đội “trung lập về chính trị” hoặc “không can thiệp về chính trị”! Thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam cho thấy, Quân đội nhân dân Việt Nam ra đời từ các phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, được Đảng ta và Bác Hồ kính yêu sáng lập và rèn luyện để giành và giữ chính quyền cách mạng, nên quân đội ta là một lực lượng chính trị tin cậy của Đảng và Nhà nước. Quân đội ta là lực lượng nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, là đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ, sẵn sàng chiến đấu hy sinh “vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân”. Gần 71 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Quân đội ta luôn là lực lượng chính trị trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc và nhân dân.
Được đăng bởi 19541975 vào lúc 06:44 Không có nhận xét nào: Description: C:\Users\Administrator\Desktop\19541975.blogspot.com_files\icon18_edit_allbkg.gif
ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN, CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT CỦA NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VỀ TÔN GIÁO, DÂN TỘC LÀ ĐÚNG ĐẮN PHÙ HỢP LỢI ÍCH QUỐC GIA, DÂN TỘC.

Hiện nay, các thế lực thù địch đang ra sức đẩy mạnh các hoạt động lợi dụng tôn giáo để chống phá nhà nước ta, như: lập ra “Chính phủ Đề-ga” lưu vong, “Chính phủ Khơ-me tự do”, kích động khuynh hướng ly khai dân tộc, đòi thành lập các khu tự trị như “Vương quốc Mông” ở Tây Bắc, “Nhà nước Đề-ga độc lập” ở Tây Nguyên, “Nhà nước Khơ-me - Crôm độc lập” ở Tây Nam Bộ, “Nhà nước Chăm độc lập” ở Nam Trung Bộ. Chúng gắn vấn đề dân tộc với tôn giáo, sử dụng các phần tử xấu trong các dân tộc và tôn giáo chống lại cách mạng. Hầu hết những cuộc gây rối, bạo loạn ở các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ vừa qua đều gắn với vấn đề tôn giáo, sử dụng tôn giáo làm phương tiện tập hợp lực lượng để chống chính quyền. Đáng lo ngại là xuất hiện hiện tượng tín ngưỡng, tâm linh mới mang nặng mê tín dị đoan, phát triển trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên,... phá vỡ truyền thống văn hóa bản địa và có ảnh hưởng đến an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, như: hoạt động của nhóm Dương Văn Mình, Pháp Luân Công,...
 Một bộ phận chức sắc tôn giáo và giáo dân có tư tưởng cực đoan, bị các thế lực thù địch, bọn phản động lưu vong ở nước ngoài và một số phần tử cơ hội chính trị trong nước cấu kết thực hiện âm mưu dụ dỗ, mua chuộc những người khiếu kiện, kích động họ tham gia biểu tình chống chính quyền; gắn tôn giáo ở Việt Nam với vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” và ra sức đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, vu cáo Việt Nam không có dân chủ, nhân quyền, không có tự do tôn giáo và chúng cho rằng Việt Nam có tình trạng đàn áp và bắt bỏ tù những người hoạt động đấu tranh cho tự do tôn giáo, đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền, v.v.
Dựa trên những thông tin không đúng sự thật, bằng cái nhìn sai lệch, định kiến của các thế lực chống phá cách mạng Việt Nam với những luận điệu không mới nêu trên là những việc làm sai trái, không phù hợp với pháp luật Việt Nam và Luật pháp quốc tế. Bởi lẽ, Việt Nam đã đạt được những tiến bộ trong việc thực hiện đầy đủ các quyền con người, không vi phạm “Tuyên ngôn nhân quyền” của thế giới. Việc bảo đảm tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam được đặt trong tương quan hài hòa với những yếu tố lịch sử - văn hóa của dân tộc, kết hợp với việc giữ vững an ninh quốc gia, chủ quyền dân tộc. Cũng như mọi dân tộc khác trên thế giới, dân tộc Việt Nam có quyền tự do "quyết định thể chế chính trị của mình và tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa" như Phần mở đầu Công ước về các quyền dân sự và chính trị của Liên hợp quốc (Khoản 1, Ðiều 1) khẳng định. Bảo đảm quyền con người trở thành lý tưởng chung mà các quốc gia, dân tộc cần đạt tới và là nền tảng của tự do, công lý, hòa bình trên thế giới và Hiến pháp năm 2013 (Điều 24) khẳng định rõ: “Mọi người có quyền tự do ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”.
Từ những quan điểm, chính sách và hệ thống các văn bản pháp luật trên, có thể khẳng định quyền tự do ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam được Đảng, Nhà nước thừa nhận, tôn trọng và bảo hộ; từ đó, đã làm thay đổi căn bản đời sống tôn giáo ở Việt Nam. Về sinh hoạt tôn giáo: tín đồ các tôn giáo sinh hoạt tôn giáo bình thường tại gia đình và nơi thờ tự theo nghi lễ truyền thống của tôn giáo mình. Một số sinh hoạt tôn giáo, nhất là những tôn giáo có phạm vi địa phương trước đây không thực hiện được, những năm gần đây đều được hoạt động; các hoạt động ngưỡng, tôn giáo ngày càng ổn định theo đúng hiến chương, điều lệ tổ chức, bảo đảm tuân thủ pháp luật. Chính quyền các cấp tạo điều kiện thuận lợi cho đồng bào theo các tôn giáo “đồng hành cùng dân tộc”, phát huy giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo trong xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư; hướng dẫn, động viên tín đồ tích cực tham gia hoạt động xã hội, từ thiện, thực hiện phương châm sống “tốt đời, đẹp đạo”,hưởng ứng các phong trào thi đua yêu nước, góp phần xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, qua đó mở rộng uy tín, ảnh hưởng của tôn giáo mình. Về tổ chức tôn giáo: trước năm 1986, chỉ có 03 tổ chức, đến nay đã có 37 tổ chức và 01 pháp môn tu hành được Nhà nước công nhận và cấp đăng ký hoạt động. Về việc mở trường đào tạo chức sắc: trước đổi mới, chỉ có một số lớp của Phật giáo, Công giáo. Hiện nay, riêng Phật giáo có 04 học viện, 08 trường cao đẳng, 32 trường trung cấp; Công giáo có 07 Đại chủng viện và 01 phân hiệu; Tin lành có 02 Viện Thánh kinh thần học và Học viện Thần học,… Về xây dựng, sửa chữa nơi thờ tự: trước đổi mới, hầu như không có hoạt động này. Hiện nay, hầu hết các cơ sở thờ tự của các tôn giáo (hơn 20.000 cơ sở - chiếm 80%) được sửa chữa, trong đó 1/3 được trùng tu sửa chữa quy mô lớn, đồng thời có khoảng 2.000 cơ sở thờ tự được xây mới. 
Là thành viên có trách nhiệm của Liên hợp quốc và cộng đồng thế giới, Việt Nam luôn chia sẻ, tôn trọng các yêu cầu và cam kết quốc tế về nhân quyền nói trên. Thực tế lịch sử Việt Nam cũng cho thấy, nhiều tổ chức tôn giáo và hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo luôn đồng hành cùng dân tộc trong cuộc đấu tranh chống lại áp bức, bất công, giành lại nền độc lập dân tộc, và ngày nay đang nỗ lực xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Từ thực tế về tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam chúng ta bác bỏ hoàn toàn những thông tin sai lệch, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch với cách mạng Việt Nam, thông qua chiến lược “Diễn biến hoà bình” đã lợi dụng vấn đề “dân tộc”, “tôn giáo” để gây bất ổn về an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, chống phá Đảng và Nhà nước ta, phục vụ cho âm mưu sử dụng tôn giáo làm lực lượng thúc đẩy nhanh tiến trình “dân chủ hoá” theo kiểu phương Tây nhằm làm thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam. Vì vậy, trong tình hình hiện nay, các cơ quan chức năng, nòng cốt là cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo ở các cấp cần phát huy tốt hơn nữa vai trò, trách nhiệm của mình, chủ động thông tin, hướng dẫn, tuyên truyền để các tổ chức, cá nhân tôn giáo ở trong và ngoài nước hiểu và thực hiện đúng chính sách tôn giáo ở Việt Nam; kịp thời vạch trần âm mưu, thủ đoạn, hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch, loại bỏ những cách nhìn thiếu khách quan về tình hình tôn giáo ở Việt Nam, góp phần tăng cường củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, tạo sức mạnh của đất nước, thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.


Được đăng bởi 19541975 vào lúc 05:29 Không có nhận xét nào: Description: C:\Users\Administrator\Desktop\19541975.blogspot.com_files\icon18_edit_allbkg.gif
Thứ Năm, ngày 10 tháng 9 năm 2015
KHẲNG ĐỊNH VAI TRÒ LÃNH ĐẠO DUY NHẤT CỦA
 ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Lịch sử lập hiến Việt Nam đã trải qua những bước ngoặt to lớn cùng với sự ra đời của các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001). Hiến pháp năm 1992 đã tạo cơ sở chính trị - pháp lý quan trọng cho việc thực hiện công cuộc đổi mới. Qua 20 năm thực hiện Hiến pháp năm 1992, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Thành tựu đó có vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã lãnh đạo nhân dân tiến hành Cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam), đánh thắng các cuộc chiến tranh xâm lược, xoá bỏ chế độ thực dân, phong kiến, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc nền độc lập của Tổ quốc.
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng, các thế lực thù địch luôn chĩa mũi nhọn của chúng vào việc chống phá Đảng. Vì vậy, sự thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng như trong điều 4 của Hiến pháp là cơ sở pháp lý để chống lại sự xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng, chia rẽ Đảng với nhân dân, kích động nhân dân chống lại Đảng hòng mưu toan lật đổ chính quyền cách mạng, thay đổi chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Hiện nay, đất nước ta đã có nhiều thay đổi, tình hình quốc tế đang có những diễn biến phức tạp và sâu sắc. Việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 cho phù hợp với tình hình mới là rất cần thiết.
Một trong những nội dung quan trọng của Chương I (Chế độ chính trị) được xác định trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã khẳng định rõ vị trí, vai trò, trách nhiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Điều 4 (sửa đổi, bổ sung Điều 4)
1. Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
2. Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình.
3. Các tổ chức của Đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
Tuy nhiên, qua nghiên cứu và từ thực tiễn Tôi thấy, vẫn còn thiếu và chưa đầy đủ, cần thêm và bổ sung một số cụm từ ở Điều 4 sửa đổi Hiến pháp năm 1992 như sau:
Một là, Tại Khoản 1, Điều 4, đề nghị bổ sung thêm cụm từ “duy nhất” vào câu: “ Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.”
Hai là, thêm Khoản 2, Điều 4, chỉ rõ mục đích lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam để nhân dân và các tầng lớp xã hội hiểu rõ mục đích lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn người bóc lột người, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản. Mục đích đó phù hợp với nguyện vọng, ý chí của quần chúng nhân dân. Đồng thời, chống lại sự xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch muốn xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Ba là, Khoản 2, đưa xuống thành Khoản 3.
Bốn là. Khoản 3, đưa xuống thành Khoản 4. Cụ thể bổ sung và sửa đổi như sau:
 1. Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
2. Mục đích của Đảng là xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn người bóc lột người, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản.
3. Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình .
4. Các tổ chức của Đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
Như vậy, 4 Khoản trong Điều 3 đã khẳng định được Đảng là đội tiên phong của của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, đó là hệ tư tưởng cách mạng khoa học và đã khẳng định rõ Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
Để thực hiện mục đích của Đảng, là xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn người bóc lột người, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản. Đảng phải gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. Đồng thời, Đảng (các tổ chức của Đảng và đảng viên) phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

Được khẳng định vai trò duy nhất lãnh đạo nhà nước và xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam trong Hiến pháp, chắc chắn sẽ khuyến khích, động viên và bảo đảm cho Đảng thực hiện và hoàn thành xuất sắc vai trò lãnh đạo của mình.
Được đăng bởi 19541975 vào lúc 01:58 Không có nhận xét nào: Description: C:\Users\Administrator\Desktop\19541975.blogspot.com_files\icon18_edit_allbkg.gif
Thứ Bảy, ngày 13 tháng 6 năm 2015
QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC- LÊ – NIN VỀ ĐẤU TRANH GIAI CẤP VẪN CÒN NGUYÊN GIÁ TRỊ
Như chúng ta biết, phát hiện ra vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp không phải là công lao của Mác. Trong thư gửi Vây-đơ-mai-ơ ngày 5-3-1852, Mác viết: "...Tôi không có công lao là đã phát hiện ra sự tồn tại của các giai cấp trong xã hội hiện đại, cũng không có công lao là đã phát hiện ra cuộc đấu tranh giữa các giai cấp với nhaụ Các nhà sử học tư sản trước tôi rất lâu đã trình bày sự phát triển lịch sử của cuộc đấu tranh giai cấp đó, còn các nhà kinh tế học tư sản thì đã trình bày sự giải phẫu kinh tế của các giai cấp. Cái mới mà tôi đã làm là chứng minh rằng: 1- Sự tồn tại của các giai cấp chỉ gắn với những giai đoạn phát triển lịch sử nhất định của sản xuất; 2- Đấu tranh giai cấp tất yếu dẫn đến chuyên chính vô sản; 3- Bản thân nền chuyên chính này chỉ là bước quá độ tiến tới thủ tiêu mọi giai cấp và tiến tới xã hội không có giai cấp" (1).
Như vậy, Mác không coi đấu tranh giai cấp là động lực phát triển của xã hội nói chung như một số người quan niệm, mà chỉ là một động lực phát triển của xã hội có đối kháng giai cấp mà thôi. Trong xã hội cộng sản nguyên thủy chưa có giai cấp nên chưa có đấu tranh giai cấp, và sau này trong tương lai, khi xã hội không còn phân chia giai cấp nữa thì cũng không còn đấu tranh giai cấp. Nghĩa là như Mác đã khẳng định, đấu tranh giai cấp chỉ gắn với những giai đoạn lịch sử nhất định của sự phát triển xã hộị
Quan điểm khoa học về giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác không phải là áp đặt, bịa đặt mà phản ánh một thực tế khách quan trong xã hội có phân chia giai cấp, đó là sự đối kháng giữa các giai cấp: Bóc lột và bị bóc lột, thống trị và bị trị, áp bức và bị áp bức. Do đó, đấu tranh giai cấp trong các xã hội này là tất yếu khách quan, góp phần thúc đẩy cho xã hội vận động, phát triển lên những hình thái cao hơn.
Tuy nhiên, chủ nghĩa Mác không bao giờ coi đấu tranh giai cấp là động lực duy nhất trong xã hội có giai cấp. Ngoài động lực này, như Mác đã từng chỉ ra, còn một loạt những động lực khác như: Sự phát triển của lực lượng sản xuất, nhu cầu, lợi ích, lý tưởng, khoa học-kỹ thuật v.v..
Đồng thời, việc nhận thức và giải quyết vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp phải phù hợp với tình hình thực tiễn, điều kiện lịch sử, cụ thể của mỗi quốc gia dân tộc và phù hợp với từng giai đoạn của cách mạng. Trước đây khi phân tích so sánh về đấu tranh giai cấp ở các nước phương Tây và phương Đông, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cho rằng ở phương Tây, đấu tranh giai cấp rất quyết liệt, còn ở phương Đông, những nước như "Ấn Độ hay Trung Quốc về mặt cấu trúc kinh tế, không giống các xã hội phương Tây thời Trung cổ cũng như thời cận đại, và đấu tranh giai cấp ở đó không quyết liệt như ở đây"(2). Đối với Việt Nam cũng vậy, vì Việt Nam vốn là một xã hội phương Đông cổ truyền, nông nghiệp lạc hậu, hơn 90% là nông dân, phân hóa giai cấp chưa sâu sắc. Từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, yêu cầu đoàn kết dân tộc nổi lên hàng đầu để tập hợp các lực lượng, các giai cấp, các tầng lớp trong xã hội nhằm thực hiện nhiệm vụ cứu nước, giải phóng dân tộc. Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phê phán quan điểm giáo điều của một số người về đấu tranh giai cấp ở Việt Nam: "Nghe người ta nói giai cấp đấu tranh, mình cũng ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh, mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào để làm cho đúng"(3).
Ở đây không được phép lẫn lộn quan điểm khoa học về đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác - Lê-nin với quan điểm hữu khuynh phủ nhận đấu tranh giai cấp hoặc quan điểm tả khuynh cường điệu đấu tranh giai cấp, thiên về trấn áp bạo lực, hoặc mượn danh đấu tranh giai cấp để đấu tố trấn áp những người không ăn cánh, không theo đường lối của mình, có tính chất bè phái như đã từng xảy ra ở một số nước xã hội chủ nghĩa trước đâỵ
Trong thời kỳ đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có những nhận thức mới về chuyên chính vô sản và đấu tranh giai cấp. Hội nghị Trung ương 6 khóa VI (3-1989), lần đầu tiên đã sử dụng khái niệm "hệ thống chính trị" thay cho khái niệm "hệ thống chuyên chính vô sản". Từ đó về sau, trong Cương lĩnh năm 1991 và Cương lĩnh 2011, trong các văn kiện từ Đại hội VII đến Đại hội XI ít sử dụng thuật ngữ "chuyên chính vô sản". Đây là một bước tiến của nhận thức, phù hợp hơn với điều kiện tình hình mớị
Về đấu tranh giai cấp, Đại hội IX của Đảng nhận định, cùng với những biến đổi to lớn về kinh tế, xã hội thì cơ cấu, tính chất, vị trí của các giai cấp trong xã hội ta đã thay đổi nhiềụ Mối quan hệ giữa các giai cấp, các tầng lớp xã hội là quan hệ hợp tác và đấu tranh trong nội bộ nhân dân, đoàn kết và hợp tác lâu dài trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nội dung chủ yếu của đấu tranh giai cấp trong giai đoạn hiện nay là thực thiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa, khắc phục tình trạng nước nghèo, kém phát triển, thực hiện công bằng xã hội, chống áp bức, bất công; đấu tranh ngăn chặn và khắc phục những tư tưởng và hành động tiêu cực; đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch; bảo vệ độc lập dân tộc, xây dựng nước ta thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh, nhân dân hạnh phúc.
Đại hội IX cũng xác định động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân tộc trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hòa các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế toàn xã hộị
Như vậy, Đảng ta không phủ nhận đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ, song quan niệm đấu tranh giai cấp cũng như động lực phát triển đất nước phù hợp hơn với sự thay đổi về kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước, với nhiệm vụ của cách mạng trong thời kỳ đổi mớị
(1). C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, tập 28, Nxb CTQG, HN, 1996, tr.661-662.
(2). Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 1, Nxb CTQG, 2011, tr.508, 509.
(3). Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5, HN, Nxb CTQG, 2011, tr.312.
                                                                                              Chân lý
Được đăng bởi 19541975 vào lúc 23:59 Không có nhận xét nào: Description: C:\Users\Administrator\Desktop\19541975.blogspot.com_files\icon18_edit_allbkg.gif
KIẾN NGHỊ KHÔNG HỢP LÒNG DÂN
Gần đây tôi có đọc một số bài đăng blogger cá nhân, một số người kiến nghị với Đảng ta từ bỏ con đường xây dựng CNXH, chuyển sang đường lối dân tộc và dân tộc chủ nghĩa. Kiến nghị đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Trước hết, với tư cách cá nhân khẳng định rằng con đường tiến lên xây dựng CNXH là hoàn toàn đúng đắn, là nguyện vọng của toàn thể dân tộc Việt Nam. Bởi vì, năm 1930 trong cương lĩnh chính trị thành lập Đảng đã khẳng định con đường này, nó phù hợp với nguyện vọng của nhân dân và được nhân dân theo Đảng hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc. Thứ hai, thành tựu Đảng ta lãnh đạo dân tộc đạt được như ngày hôm nay là rất to lớn: Đánh thắng các thế lực xâm lược lớn mạnh, bị cấm vận về kinh tế, cô lập về ngoại giao, nhưng Đảng đã kiên trì Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ quốc tế, buộc Mỹ phải bãi bỏ cấm vận kinh tế, bình thường hóa qua hệ với Việt Nam. Như vậy, Đảng ta lãnh đạo toàn dân khởi nghĩa giành chính quyền, đánh thắng 2 cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp và Mỹ (1945-1975); cuộc chiến tranh biên giới tây nam 1978, phía bắc năm 1979, xây dựng đất nước đạt được thành tựu to lớn về mọi mặt. To lớn thể hiện là chúng ta xây dựng đất nước thuận tiện mới chỉ có từ năm 1995 (sau khi Mỹ bãi bỏ cấm vận), chưa đầy 20 năm, mà thành tựu đạt được như vậy phải là kỳ tích. Nếu như đất nước không bị xâm lược mà Đảng lãnh đạo có hàng trăm năm hòa bình để xây dựng đất nước thì thành tựu chắc chắn to lớn hơn nhiều. Vậy, làm gì phải từ bỏ con đường XHCN, làm gì phải đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Một minh chứng còn sống động như nước Ucraina sau khi tách khỏi Liên bang Xô Viết năm 1991, từ bỏ thể chế XHCN, theo con đường trung lập nhưng đến nay đất nước khủng hoảng triền miên, lạm phát tăng cao, xung đột phe phái, nhân dân khổ cực,…điều đó nói nên rằng không phải đa đảng là tốt. Bởi vậy, thay vì kêu gọi thành lập đảng phái đối lập với Đảng Cộng sản để được dân chủ hơn, tôi nghĩ các người nên hành động cụ thể, thiết thực, nghiên cứu đề xuất những ý kiến hay hợp lòng dân ý Đảng để hiện thực hóa mục tiêu mà Đảng đã đề ra, vì lợi ích dân tộc và nhân dân thì tốt hơn.

Được đăng bởi 19541975 vào lúc 23:49 Không có nhận xét nào: Description: C:\Users\Administrator\Desktop\19541975.blogspot.com_files\icon18_edit_allbkg.gif


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét