ĐỀ CAO CẢNH GIÁC TRƯỚC
NHỮNG LUẬN ĐIỆU CỦA CÁC THẾ LỰC PHẢN
ĐỘNG CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM HIỆN NAY
Hiện nay, các thế lực thù địch đang ra sức đẩy
mạnh các hoạt động lợi dụng tôn giáo để chống phá nhà nước ta, như: lập ra
“Chính phủ Đề-ga” lưu vong, “Chính phủ Khơ-me tự do”, kích động khuynh hướng ly
khai dân tộc, đòi thành lập các khu tự trị như “Vương quốc Mông” ở Tây Bắc,
“Nhà nước Đề-ga độc lập” ở Tây Nguyên, “Nhà nước Khơ-me - Crôm độc lập” ở Tây
Nam Bộ, “Nhà nước Chăm độc lập” ở Nam Trung Bộ. Chúng gắn vấn đề dân tộc với
tôn giáo, sử dụng các phần tử xấu trong các dân tộc và tôn giáo chống lại cách
mạng. Hầu hết những cuộc gây rối, bạo loạn ở các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây
Nam Bộ vừa qua đều gắn với vấn đề tôn giáo, sử dụng tôn giáo làm phương tiện
tập hợp lực lượng để chống chính quyền.
Đáng
lo ngại là xuất hiện hiện tượng tín ngưỡng, tâm linh mới mang nặng mê tín dị
đoan, phát triển trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số khu vực Tây
Bắc, Tây Nguyên,... phá vỡ truyền thống văn hóa bản địa và có ảnh
hưởng đến an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, như: hoạt động của
nhóm Dương Văn Mình, Pháp Luân Công,... Một bộ phận chức sắc tôn giáo và giáo
dân có tư tưởng cực đoan, bị các thế lực thù địch, bọn phản động lưu vong ở
nước ngoài và một số phần tử cơ hội chính trị trong nước cấu kết thực hiện âm
mưu dụ dỗ, mua chuộc những người khiếu kiện, kích động họ tham gia biểu tình
chống chính quyền; gắn tôn giáo ở Việt Nam với vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”
và ra sức đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, vu cáo Việt Nam không có dân
chủ, nhân quyền, không có tự do tôn giáo và chúng cho rằng Việt Nam có tình
trạng đàn áp và bắt bỏ tù những người hoạt động đấu tranh cho tự do tôn giáo,
đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền, v.v.
Dựa
trên những thông tin không đúng sự thật, bằng cái nhìn sai lệch, định kiến của
các thế lực chống phá cách mạng Việt Nam với những luận điệu không mới nêu trên
là những việc làm sai trái, không phù hợp với pháp luật Việt Nam và Luật pháp
quốc tế. Bởi lẽ, Việt Nam đã đạt được những tiến bộ trong việc thực hiện đầy đủ
các quyền con người, không vi phạm “Tuyên ngôn nhân quyền” của thế giới. Việc
bảo đảm tự do tín ngướng, tôn giáo ở Việt Nam được đặt trong tương quan hài hòa
với những yếu tố lịch sử - văn hóa của dân tộc, kết hợp với việc giữ vững an
ninh quốc gia, chủ quyền dân tộc.
Cũng
như mọi dân tộc khác trên thế giới, dân tộc Việt Nam có quyền tự do "quyết
định thể chế chính trị của mình và tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn
hóa" như Phần mở đầu Công ước về các quyền dân sự và chính trị
của Liên hợp quốc (Khoản 1, Ðiều 1) khẳng định. Bảo đảm quyền con người trở
thành lý tưởng chung mà các quốc gia, dân tộc cần đạt tới và là nền tảng của tự
do, công lý, hòa bình trên thế giới. Là thành viên có trách nhiệm của Liên
hợp quốc và cộng đồng thế giới, Việt Nam luôn chia sẻ, tôn trọng các yêu cầu và
cam kết quốc tế về nhân quyền nói trên. Thực tế lịch sử Việt Nam cũng cho thấy,
nhiều tổ chức tôn giáo và hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo luôn đồng hành cùng
dân tộc trong cuộc đấu tranh chống lại áp bức, bất công, giành lại nền độc lập
dân tộc, và ngày nay đang nỗ lực xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Trong
tình hình hiện nay, các cơ quan chức năng, nòng cốt là cơ quan quản lý nhà nước
về tôn giáo ở các cấp cần phát huy tốt hơn nữa vai trò, trách nhiệm của mình,
chủ động thông tin, hướng dẫn, tuyên truyền để các tổ chức, cá nhân tôn giáo ở
trong và ngoài nước hiểu và thực hiện đúng chính sách tôn giáo ở Việt Nam; kịp
thời vạch trần âm mưu, thủ đoạn, hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch,
góp phần loại bỏ những cách nhìn thiếu khách quan về tình hình tôn giáo ở Việt
Nam.
Chân lý 15 tháng 5 năm 2016
Tôi là Chân lý, Blogger 19541975, vừa rồi có đọc một
số bài viết của các ông có nội dung xuyên tạc Đường lối, quan điểm của Đảng và
công tác nhân sự Đại hội XII của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó có đưa ra
chính kiến của mình là đề nghị người này rút, người kia lên, kích động mâu
thuẫn trong nội bộ Đảng. Theo sự nhìn nhận của Tôi, các ông chỉ là những người
cơ hội chính trị, kém cỏi về tư duy và logich chính trị, tại sao Tôi nói vậy?
Thứ nhất,
các ông phải đọc và hiểu rõ lịch sử ra đời và thành tựu của Đảng Cộng sản Việt
Nam đem lại cho đất nước và dân tộc này, đến người dân bình thường cũng hiểu
được. Một ví dụ sinh động Tôi nói lại để các ông sáng thêm cái đầu, tháng
8/2015 vừa qua tôi vào Sài Gòn, tôi đi uống cà phê có hỏi một Bác gái: Cháu hỏi
Bác chế độ ngụy quyền Sài Gòn ngày xưa có gì ưu việt hơn chế độ ta bây giờ, mà
một số ít người muốn tái hiện lại chế độ Sài Gòn; các ông biết Bác gái nói gì
không? Bác nói với cháu rằng chế độ ta bây giờ sướng giơn, tự do, muốn làm thì
làm, muốn ăn thì ăn, muốn chơi thì chơi đời sống sướng lên nhiều, Bác quê ở Bến
Cát - Bình Dương, ban ngày Bố mẹ bắt Bác chạy vào rừng để tránh bom đạn, ban
đêm mới cho Bác về, cả cuộc đời của Bác không được học hành gì cả.
Thứ hai,
ở Việt Nam quy chế bầu cử rất chặt chẽ, dân chủ, được Hội đồng bầu cử chuẩn bị
trên cơ sở Điều lệ Đảng và cả tập thể Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương
xem xét thì không có chuyện bè phái phe cánh nào? Các ông cũng chỉ là những
người cơ hội chính trị, thấp hèn, kém cỏi. Nếu các ông có trình độ, năng lực
thì đóng góp ý kiến cho sự phát triển của đất nước, chứ các ông lại đi nói bậy,
kêu gào để kiếm tiền sinh nhai, các ông không thấy xấu hổ sao?
Thứ ba,
các đồng chí trong Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương là những đội ngũ có
phẩm chất, năng lực, có uy tín, được các tổ chức Đảng giới thiệu hết sức là dân
chủ, công tâm, chính xác; còn một số đồng chí nhiệm kỳ khóa XI xin nghỉ thì Đại
hội cho nghỉ theo đề nghị, nguyện vọng cá nhân.
Thứ tư,
Đại hội Đảng XII của Cộng sản Việt Nam sẽ thành công rực rỡ và sẽ tiếp tục lãnh
đạo đất nước Việt Nam trên con đường phát triển, thực hiện thành công mục tiêu
dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Chủ
Nhật, ngày 24 tháng 1 năm 2016
BÙI TÍN TÊN CƠ HỘI CHÍNH TRỊ, BẤT
TÀI VÔ DỤNG!
Bùi tín Ông là tên cơ hội chính trị, bất tài vô dụng. Tôi
nói để Ông thấy cái bất tài vô dụng của Ông: Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời năm
1930 trong bối cảnh đất nước bị ngoại xâm, dân ta bị áp bức thì không một lực
lượng nào đảm đương lãnh đạo đất nước. Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo dân
tộc lật đổ ách thống trị phát xít Nhật và lần lượt đánh đổ giặc ngoại xâm là
Pháp; Mỹ; chiến tranh biên giới tây Nam và phía Bắc. Sau năm 1975 với chính
sách bao vây cấm vận của Mỹ và các nước phương tây Việt Nam; đồng thời ra sức
tài trợ tiền bạc cho hàng trăm tổ chức phản động về nước chống phá, nhằm
lật đổ chế độ XHCN. Trong lúc bị các thế lực thù địch chống phá đất nước, là
con em nước Việt phải có trách nhiệm bảo vệ. Ngược lại, bản thân Ông được Đảng,
Nhà nước, Nhân dân nuôi dưỡng, đào tạo Ông, đáng lẽ ra Ông phải mang trí tuệ
cùng Đảng, Nhân dân xây dựng đất nước chống lại kẻ thù bên ngoài, nhưng Ông
nhìn thấy Liên Xô và các nước XHCN khủng hoảng, tan rã và cũng tưởng chế độ
XHCN Việt Nam cũng như thế. Vì vậy, tháng 9/1990 Ông sang Pháp và ở lại đó
luôn, quay 180 độ nói xấu Đảng Cộng Sản, Bác Hồ và hy vọng sau này như một
người hùng trở về để lãnh đạo đất nước. Nhưng Ông đã nhầm, cái nhầm tưởng của
Ông là do trình độ tư duy lý luận kém cỏi của Ông khi phân tích thời cuộc, ở
Việt Nam dân tộc Việt Nam không chấp nhận sự đô hộ của ngoại bang, điều này nếu
Ống thiếu kiến thức lịch sử thì tìm lịch sử Việt Nam đọc lại; mặt khác Ông là
tên vô đạo đức dám nói xấu Bác Hồ. Ở Việt Nam và trên thế giới mọi người rất
Kính trọng lãnh tụ Hồ Chí Minh với cống hiến của người và quốc tế đã trao những
giải thưởng cho Lãnh tụ Hồ Chí Minh thì Ông quá rõ. Tôi nói để Ông biết các
cháu Triều Tiên sang Việt Nam học tập các cháu nói: Ở Việt Nam các Bác có lãnh
tụ vĩ đại là Chủ tịch Hồ Chí Minh, còn ở Triều tiên có lãnh tụ vĩ đại Kim Nhật
Thành, nhưng Lãnh tụ Hồ Chí Minh của các Bác làm được cái điều mà Lãnh tụ Kim
Nhật Thành chúng cháu không làm được, đó là thống nhất đất nước, giang sơn thu
về một mối. Còn Ông cố mà nghĩ đi, nếu không nghĩ được Tôi nói cho Ông biết,
nếu Bác Hồ còn sống thì Tôi sẽ đề nghị Bác sẽ cho Ông làm nghề chuyên rửa chân
cho Bác và trả lương cao gấp 10 lần để Ông sống quãng đời còn lại, đỡ phải đi
chửi bậy để kiếm tiền sống ẩn dật, rồi đến lúc chết hồn ma của Ông biết về đâu?
Tôi nói để Ông sáng mắt ra là: Đại hội XII của Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ thành
công rực rỡ; Việt Nam tiếp tục vững bước trên con đường phát triển để xây dựng
đất nước giàu đẹp; Đảng Cộng sản Việt Nam muôn năm; Chủ tịch Hồ Chí Minh sống
mãi trong lòng người dân Việt Nam. Còn Bùi tín muôn đời vẫn là tên cơ hội chính
trị, tên bất tài vô dụng.
Thứ
Bảy, ngày 07 tháng 11 năm 2015
LUẬN ĐIỂM “PHI CHÍNH TRỊ HÓA QUÂN ĐỘI Ở VIỆT NAM” LÀ PHẢN
ĐỘNG, LẠC HẬU, LỖI THỜI. Lịch sử loài người từ khi xuất hiện giai cấp và nhà
nước, gắn liền với nó thì quân đội được tổ chức để bảo vệ giai cấp và nhà nước
đó và tất yếu quân đội mang bản chất giai cấp. Quân đội là công cụ bạo lực vũ
trang của nhà nước để bảo vệ thành quả mà lực lượng chính trị cầm quyền có được
qua các cuộc đấu tranh giành quyền lực. Lịch sử ra đời và phát triển của các
quân đội trên thế giới cho thấy, quân đội là một hiện tượng xã hội mang tính
lịch sử, là sản phẩm của cuộc đấu tranh giai cấp, mang bản chất giai cấp sâu
sắc, không có quân đội phi giai cấp, siêu giai cấp, quân đội trung lập và càng
không có quân đội chung chung. Quân đội mang bản chất của giai cấp tổ chức xây
dựng, giáo dục, rèn luyện và sử dụng nó. Mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân
đội là phục vụ cho mục tiêu, lý tưởng của giai cấp đã tổ chức ra nó. V.I. Lênin
đã khẳng định: “Quân đội không thể và không nên trung lập. Không lôi kéo quân
đội vào chính trị, đó là khẩu hiệu của bọn tôi tớ, giả nhân, giả nghĩa của giai
cấp tư sản…”. Thực tiễn trên thế giới cho thấy, quân đội của bất kỳ quốc gia
nào cũng là một lực lượng chính trị quan trọng mà bất cứ nhà nước nào, giai cấp
cầm quyền nào cũng phải nắm lấy để bảo vệ quyền lợi chính trị và kinh tế của
mình. Lịch sử đã chứng kiến hàng nghìn vụ đảo chính trên thế giới từ xưa đến nay
và có những giai đoạn, đảo chính quân sự xảy ra như cơm bữa ở châu Phi. Chỉ
tính riêng ở Thái Lan, trong hơn 70 năm qua, quân đội đã thực hiện 19 lần đảo
chính và âm mưu đảo chính. Trong khoảng hơn một thập kỷ, từ cuối những năm của
thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21 (1990 - 2003), quân đội Mỹ và đồng minh đã tiến hành
bốn cuộc chiến tranh quy mô lớn chống lại các nước độc lập có chủ quyền, bất
chấp dư luận, luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc (chiến tranh vùng
Vịnh 1990-1991; chiến tranh Nam Tư 1999; chiến tranh Apganixtan 2001 và chiến
tranh Irắc 2003). Gần đây là việc quân đội Mỹ và NATO tiến hành các cuộc chiến
tranh hoặc can thiệp quân sự ở Trung Đông - Bắc Phi nhằm lật đổ các chế độ
“cứng đầu” và thiết lập chế độ mới theo Mỹ và phương Tây. Vậy sao lại cho rằng
quân đội “trung lập về chính trị” hoặc “không can thiệp về chính trị”! Thực
tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam cho thấy, Quân đội nhân dân Việt Nam ra đời từ
các phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, được Đảng ta và Bác Hồ kính
yêu sáng lập và rèn luyện để giành và giữ chính quyền cách mạng, nên quân đội
ta là một lực lượng chính trị tin cậy của Đảng và Nhà nước. Quân đội ta là lực
lượng nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, là đội quân từ nhân
dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ, sẵn sàng chiến đấu hy sinh “vì độc lập tự do
của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân”. Gần 71 năm xây
dựng, chiến đấu và trưởng thành, Quân đội ta luôn là lực lượng chính trị trung
thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc và nhân dân.
ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN, CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT CỦA NHÀ
NƯỚC VIỆT NAM VỀ TÔN GIÁO, DÂN TỘC LÀ ĐÚNG ĐẮN PHÙ HỢP LỢI ÍCH QUỐC GIA, DÂN
TỘC.
ĐƯỜNG LỐI
CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN, CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT CỦA NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VỀ TÔN GIÁO, DÂN
TỘC LÀ ĐÚNG ĐẮN PHÙ HỢP LỢI ÍCH QUỐC GIA, DÂN TỘC.
Hiện nay,
các thế lực thù địch đang ra sức đẩy mạnh các hoạt động lợi dụng tôn giáo để
chống phá nhà nước ta, như: lập ra “Chính phủ Đề-ga” lưu vong, “Chính phủ
Khơ-me tự do”, kích động khuynh hướng ly khai dân tộc, đòi thành lập các khu tự
trị như “Vương quốc Mông” ở Tây Bắc, “Nhà nước Đề-ga độc lập” ở Tây Nguyên,
“Nhà nước Khơ-me - Crôm độc lập” ở Tây Nam Bộ, “Nhà nước Chăm độc lập” ở Nam
Trung Bộ. Chúng gắn vấn đề dân tộc với tôn giáo, sử dụng các phần tử xấu trong
các dân tộc và tôn giáo chống lại cách mạng. Hầu hết những cuộc gây rối, bạo
loạn ở các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ vừa qua đều gắn với vấn đề tôn
giáo, sử dụng tôn giáo làm phương tiện tập hợp lực lượng để chống chính quyền.
Đáng lo ngại là xuất hiện hiện tượng tín ngưỡng, tâm linh mới mang nặng mê
tín dị đoan, phát triển trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số khu vực
Tây Bắc, Tây Nguyên,... phá vỡ truyền thống văn hóa bản địa và có ảnh
hưởng đến an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, như: hoạt động của
nhóm Dương Văn Mình, Pháp Luân Công,...
Một bộ
phận chức sắc tôn giáo và giáo dân có tư tưởng cực đoan, bị các thế lực thù
địch, bọn phản động lưu vong ở nước ngoài và một số phần tử cơ hội chính trị
trong nước cấu kết thực hiện âm mưu dụ dỗ, mua chuộc những người khiếu kiện,
kích động họ tham gia biểu tình chống chính quyền; gắn tôn giáo ở Việt Nam với
vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” và ra sức đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền,
vu cáo Việt Nam không có dân chủ, nhân quyền, không có tự do tôn giáo và chúng
cho rằng Việt Nam có tình trạng đàn áp và bắt bỏ tù những người hoạt động đấu
tranh cho tự do tôn giáo, đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền, v.v.
Dựa trên
những thông tin không đúng sự thật, bằng cái nhìn sai lệch, định kiến của các
thế lực chống phá cách mạng Việt Nam với những luận điệu không mới nêu trên là
những việc làm sai trái, không phù hợp với pháp luật Việt Nam và Luật pháp quốc
tế. Bởi lẽ, Việt Nam đã đạt được những tiến bộ trong việc thực hiện đầy đủ các
quyền con người, không vi phạm “Tuyên ngôn nhân quyền” của thế giới. Việc bảo
đảm tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam được đặt trong tương quan hài hòa với
những yếu tố lịch sử - văn hóa của dân tộc, kết hợp với việc giữ vững an ninh
quốc gia, chủ quyền dân tộc. Cũng như mọi dân tộc khác trên thế giới, dân tộc
Việt Nam có quyền tự do "quyết định thể chế chính trị của mình và
tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa" như Phần mở đầu Công
ước về các quyền dân sự và chính trị của Liên hợp quốc (Khoản 1, Ðiều 1) khẳng
định. Bảo đảm quyền con người trở thành lý tưởng chung mà các quốc gia, dân tộc
cần đạt tới và là nền tảng của tự do, công lý, hòa bình trên thế giới và Hiến pháp năm 2013 (Điều 24) khẳng định rõ:
“Mọi người có quyền tự do ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo
nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền
tự do ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do ngưỡng, tôn giáo hoặc
lợi dụng ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”.
Từ những
quan điểm, chính sách và hệ thống các văn bản pháp luật trên, có thể khẳng định
quyền tự do ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam được Đảng, Nhà nước thừa nhận, tôn
trọng và bảo hộ; từ đó, đã làm thay đổi căn bản đời sống tôn giáo ở Việt
Nam. Về sinh hoạt tôn giáo: tín đồ các tôn giáo sinh hoạt tôn giáo
bình thường tại gia đình và nơi thờ tự theo nghi lễ truyền thống của tôn giáo
mình. Một số sinh hoạt tôn giáo, nhất là những tôn giáo có phạm vi địa phương
trước đây không thực hiện được, những năm gần đây đều được hoạt động; các hoạt
động ngưỡng, tôn giáo ngày càng ổn định theo đúng hiến chương, điều lệ tổ chức,
bảo đảm tuân thủ pháp luật. Chính quyền các cấp tạo điều kiện thuận lợi cho
đồng bào theo các tôn giáo “đồng hành cùng dân tộc”, phát huy
giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo trong xây dựng đời sống văn hóa ở
khu dân cư; hướng dẫn, động viên tín đồ tích cực tham gia hoạt động xã hội, từ
thiện, thực hiện phương châm sống “tốt đời, đẹp đạo”,hưởng ứng các
phong trào thi đua yêu nước, góp phần xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội ở
địa phương, qua đó mở rộng uy tín, ảnh hưởng của tôn giáo mình. Về tổ
chức tôn giáo: trước năm 1986, chỉ có 03 tổ chức, đến nay đã có 37 tổ chức
và 01 pháp môn tu hành được Nhà nước công nhận và cấp đăng ký hoạt động. Về
việc mở trường đào tạo chức sắc: trước đổi mới, chỉ có một số lớp của
Phật giáo, Công giáo. Hiện nay, riêng Phật giáo có 04 học viện, 08 trường cao
đẳng, 32 trường trung cấp; Công giáo có 07 Đại chủng viện và 01 phân hiệu; Tin
lành có 02 Viện Thánh kinh thần học và Học viện Thần học,… Về xây dựng,
sửa chữa nơi thờ tự: trước đổi mới, hầu như không có hoạt động này.
Hiện nay, hầu hết các cơ sở thờ tự của các tôn giáo (hơn 20.000 cơ sở - chiếm
80%) được sửa chữa, trong đó 1/3 được trùng tu sửa chữa quy mô lớn, đồng thời
có khoảng 2.000 cơ sở thờ tự được xây mới.
Là thành
viên có trách nhiệm của Liên hợp quốc và cộng đồng thế giới, Việt Nam luôn chia
sẻ, tôn trọng các yêu cầu và cam kết quốc tế về nhân quyền nói trên. Thực tế
lịch sử Việt Nam cũng cho thấy, nhiều tổ chức tôn giáo và hoạt động tín ngưỡng,
tôn giáo luôn đồng hành cùng dân tộc trong cuộc đấu tranh chống lại áp bức, bất
công, giành lại nền độc lập dân tộc, và ngày nay đang nỗ lực xây dựng, bảo vệ
Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Từ thực tế
về tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam chúng ta bác bỏ hoàn toàn những thông tin
sai lệch, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch với cách mạng Việt Nam,
thông qua chiến lược “Diễn biến hoà bình” đã lợi dụng vấn đề “dân tộc”, “tôn
giáo” để gây bất ổn về an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, chống phá
Đảng và Nhà nước ta, phục vụ cho âm mưu sử dụng tôn giáo làm lực lượng thúc đẩy
nhanh tiến trình “dân chủ hoá” theo kiểu phương Tây nhằm làm thay đổi thể chế
chính trị ở Việt Nam. Vì vậy, trong tình hình hiện nay, các cơ quan chức năng,
nòng cốt là cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo ở các cấp cần phát huy tốt hơn
nữa vai trò, trách nhiệm của mình, chủ động thông tin, hướng dẫn, tuyên truyền
để các tổ chức, cá nhân tôn giáo ở trong và ngoài nước hiểu và thực hiện đúng
chính sách tôn giáo ở Việt Nam; kịp thời vạch trần âm mưu, thủ đoạn, hoạt động
phá hoại của các thế lực thù địch, loại bỏ những cách nhìn thiếu khách quan về
tình hình tôn giáo ở Việt Nam, góp phần tăng cường củng cố khối đại đoàn kết
dân tộc, tạo sức mạnh của đất nước, thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Thứ
Năm, ngày 10 tháng 9 năm 2015
ĐẢNG
CỘNG SẢN VIỆT NAM
Lịch sử lập hiến Việt Nam đã
trải qua những bước ngoặt to lớn cùng với sự ra đời của các bản Hiến pháp năm
1946, 1959, 1980, 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001). Hiến pháp năm 1992 đã tạo cơ sở chính trị - pháp lý quan
trọng cho việc thực hiện công cuộc đổi mới. Qua 20 năm thực hiện Hiến pháp năm
1992, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Thành
tựu đó có vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã lãnh đạo nhân dân tiến hành Cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam), đánh thắng các cuộc chiến tranh xâm lược, xoá bỏ chế độ thực dân, phong
kiến, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, tiến hành
công cuộc đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc nền độc lập
của Tổ quốc.
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng, các thế lực thù địch luôn
chĩa mũi nhọn của chúng vào việc chống phá Đảng. Vì vậy, sự thừa nhận vai trò
lãnh đạo của Đảng như trong điều 4 của Hiến pháp là cơ sở pháp lý để chống lại
sự xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng, chia rẽ Đảng với nhân dân, kích động
nhân dân chống lại Đảng hòng mưu toan lật đổ chính quyền cách mạng, thay đổi
chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Hiện nay, đất nước ta đã có
nhiều thay đổi, tình hình quốc tế đang có những diễn biến phức tạp và sâu sắc.
Việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 cho phù hợp với tình hình mới là rất
cần thiết.
Một trong những nội dung quan trọng của Chương I
(Chế độ chính trị) được xác định trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã
khẳng định rõ vị trí, vai trò, trách nhiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Điều 4 (sửa đổi, bổ sung Điều 4)
1. Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp
công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc
Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao
động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền
tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
2. Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân,
chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết
định của mình.
3. Các tổ
chức của Đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
Tuy nhiên,
qua nghiên cứu và từ thực tiễn Tôi thấy, vẫn còn thiếu và chưa đầy đủ, cần thêm
và bổ sung một số cụm từ ở Điều 4 sửa đổi Hiến pháp năm 1992 như sau:
Một
là, Tại Khoản 1, Điều 4, đề nghị bổ sung thêm cụm từ “duy
nhất” vào câu: “ Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp
công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc
Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao
động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm
nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.”
Hai
là, thêm Khoản 2, Điều 4, chỉ rõ mục đích
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam để nhân dân và các tầng lớp xã hội hiểu rõ mục đích lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam là xây dựng nước Việt Nam độc
lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn người bóc lột
người, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng
sản. Mục đích đó phù hợp với nguyện vọng, ý chí của quần chúng nhân dân. Đồng
thời, chống lại sự xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch muốn xóa bỏ
Điều 4 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Ba là, Khoản 2, đưa
xuống thành Khoản 3.
Bốn là. Khoản 3, đưa xuống thành Khoản 4.
Cụ thể bổ sung và sửa đổi như sau:
1. Đảng Cộng
sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên
phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi
ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa
Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng duy
nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
2. Mục đích của Đảng là xây dựng nước Việt Nam độc lập,
dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn người bóc lột người,
thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản.
3. Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân,
chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết
định của mình .
4. Các tổ chức của Đảng và đảng viên hoạt động trong
khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
Như vậy, 4 Khoản trong Điều 3 đã khẳng định được Đảng là
đội tiên phong của của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu
trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân
tộc. Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư
tưởng, đó là hệ tư tưởng cách mạng khoa học và đã khẳng định rõ Đảng Cộng sản
Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
Để thực hiện mục đích của Đảng, là xây dựng nước Việt Nam
độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn người bóc
lột người, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng
sản. Đảng phải gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám
sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình.
Đồng thời, Đảng (các tổ chức của Đảng và đảng viên) phải hoạt động trong khuôn
khổ Hiến pháp và pháp luật.
Được khẳng định vai trò duy nhất lãnh đạo nhà nước và xã
hội của Đảng Cộng sản Việt Nam trong Hiến pháp, chắc chắn sẽ khuyến khích, động
viên và bảo đảm cho Đảng thực hiện và hoàn thành xuất sắc vai trò lãnh đạo của
mình.
Thứ
Bảy, ngày 13 tháng 6 năm 2015
Như chúng
ta biết, phát hiện ra vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp không phải là công
lao của Mác. Trong thư gửi Vây-đơ-mai-ơ ngày 5-3-1852, Mác viết: "...Tôi
không có công lao là đã phát hiện ra sự tồn tại của các giai cấp trong xã hội
hiện đại, cũng không có công lao là đã phát hiện ra cuộc đấu tranh giữa các
giai cấp với nhaụ Các nhà sử học tư sản trước tôi rất lâu đã trình bày sự phát
triển lịch sử của cuộc đấu tranh giai cấp đó, còn các nhà kinh tế học tư sản
thì đã trình bày sự giải phẫu kinh tế của các giai cấp. Cái mới mà tôi đã làm
là chứng minh rằng: 1- Sự tồn tại của các giai cấp chỉ gắn với những giai đoạn
phát triển lịch sử nhất định của sản xuất; 2- Đấu tranh giai cấp tất yếu dẫn
đến chuyên chính vô sản; 3- Bản thân nền chuyên chính này chỉ là bước quá độ
tiến tới thủ tiêu mọi giai cấp và tiến tới xã hội không có giai cấp" (1).
Như vậy, Mác không coi đấu
tranh giai cấp là động lực phát triển của xã hội nói chung như một số người
quan niệm, mà chỉ là một động lực phát triển của xã hội có đối kháng giai cấp
mà thôi. Trong xã hội cộng sản nguyên thủy chưa có giai cấp nên chưa có đấu
tranh giai cấp, và sau này trong tương lai, khi xã hội không còn phân chia giai
cấp nữa thì cũng không còn đấu tranh giai cấp. Nghĩa là như Mác đã khẳng định,
đấu tranh giai cấp chỉ gắn với những giai đoạn lịch sử nhất định của sự phát
triển xã hộị
Quan điểm khoa học về giai cấp
và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác không phải là áp đặt, bịa đặt mà phản
ánh một thực tế khách quan trong xã hội có phân chia giai cấp, đó là sự đối
kháng giữa các giai cấp: Bóc lột và bị bóc lột, thống trị và bị trị, áp bức và
bị áp bức. Do đó, đấu tranh giai cấp trong các xã hội này là tất yếu khách
quan, góp phần thúc đẩy cho xã hội vận động, phát triển lên những hình thái cao
hơn.
Tuy nhiên, chủ nghĩa Mác không
bao giờ coi đấu tranh giai cấp là động lực duy nhất trong xã hội có giai cấp.
Ngoài động lực này, như Mác đã từng chỉ ra, còn một loạt những động lực khác
như: Sự phát triển của lực lượng sản xuất, nhu cầu, lợi ích, lý tưởng, khoa học-kỹ
thuật v.v..
Đồng thời, việc nhận thức và
giải quyết vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp phải phù hợp với tình hình
thực tiễn, điều kiện lịch sử, cụ thể của mỗi quốc gia dân tộc và phù hợp với
từng giai đoạn của cách mạng. Trước đây khi phân tích so sánh về đấu tranh giai
cấp ở các nước phương Tây và phương Đông, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cho rằng ở
phương Tây, đấu tranh giai cấp rất quyết liệt, còn ở phương Đông, những nước
như "Ấn Độ hay Trung Quốc về mặt cấu trúc kinh tế, không giống các xã hội
phương Tây thời Trung cổ cũng như thời cận đại, và đấu tranh giai cấp ở đó
không quyết liệt như ở đây"(2). Đối với Việt Nam cũng vậy, vì Việt Nam vốn
là một xã hội phương Đông cổ truyền, nông nghiệp lạc hậu, hơn 90% là nông dân,
phân hóa giai cấp chưa sâu sắc. Từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, yêu cầu
đoàn kết dân tộc nổi lên hàng đầu để tập hợp các lực lượng, các giai cấp, các
tầng lớp trong xã hội nhằm thực hiện nhiệm vụ cứu nước, giải phóng dân tộc. Vì
vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phê phán quan điểm giáo điều của một số người về
đấu tranh giai cấp ở Việt Nam: "Nghe người ta nói giai cấp đấu tranh, mình
cũng ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh, mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế
nào để làm cho đúng"(3).
Ở đây không được phép lẫn lộn
quan điểm khoa học về đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác - Lê-nin với quan
điểm hữu khuynh phủ nhận đấu tranh giai cấp hoặc quan điểm tả khuynh cường điệu
đấu tranh giai cấp, thiên về trấn áp bạo lực, hoặc mượn danh đấu tranh giai cấp
để đấu tố trấn áp những người không ăn cánh, không theo đường lối của mình, có
tính chất bè phái như đã từng xảy ra ở một số nước xã hội chủ nghĩa trước đâỵ
Trong thời
kỳ đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có những nhận thức mới về chuyên chính vô
sản và đấu tranh giai cấp. Hội nghị Trung ương 6 khóa VI (3-1989), lần đầu tiên
đã sử dụng khái niệm "hệ thống chính trị" thay cho khái niệm "hệ
thống chuyên chính vô sản". Từ đó về sau, trong Cương lĩnh năm 1991 và
Cương lĩnh 2011, trong các văn kiện từ Đại hội VII đến Đại hội XI ít sử dụng
thuật ngữ "chuyên chính vô sản". Đây là một bước tiến của nhận thức,
phù hợp hơn với điều kiện tình hình mớị
Về đấu tranh giai cấp, Đại hội
IX của Đảng nhận định, cùng với những biến đổi to lớn về kinh tế, xã hội thì cơ
cấu, tính chất, vị trí của các giai cấp trong xã hội ta đã thay đổi nhiềụ Mối
quan hệ giữa các giai cấp, các tầng lớp xã hội là quan hệ hợp tác và đấu tranh
trong nội bộ nhân dân, đoàn kết và hợp tác lâu dài trong sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nội dung chủ yếu của đấu tranh giai
cấp trong giai đoạn hiện nay là thực thiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa, khắc phục tình trạng nước nghèo,
kém phát triển, thực hiện công bằng xã hội, chống áp bức, bất công; đấu tranh
ngăn chặn và khắc phục những tư tưởng và hành động tiêu cực; đấu tranh làm thất
bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch; bảo vệ độc lập
dân tộc, xây dựng nước ta thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh, nhân dân
hạnh phúc.
Đại hội IX cũng xác định động
lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân tộc trên cơ sở liên
minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hòa
các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của
các thành phần kinh tế toàn xã hộị
Như vậy, Đảng ta không phủ nhận
đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ, song quan niệm đấu tranh giai cấp cũng
như động lực phát triển đất nước phù hợp hơn với sự thay đổi về kinh tế, chính
trị, xã hội của đất nước, với nhiệm vụ của cách mạng trong thời kỳ đổi mớị
(1). C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn
tập, tập 28, Nxb CTQG, HN, 1996, tr.661-662.
(2). Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập
1, Nxb CTQG, 2011, tr.508, 509.
(3). Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập
5, HN, Nxb CTQG, 2011, tr.312.
Chân
lý
KIẾN
NGHỊ KHÔNG HỢP LÒNG DÂN
Gần
đây tôi có đọc một số bài đăng blogger cá nhân, một số người kiến nghị với Đảng
ta từ bỏ con đường xây dựng CNXH, chuyển sang đường lối dân tộc và dân tộc chủ
nghĩa. Kiến nghị đòi đa nguyên chính
trị, đa đảng đối lập. Trước hết, với tư cách cá nhân khẳng định rằng con đường
tiến lên xây dựng CNXH là hoàn toàn đúng đắn, là nguyện vọng của toàn thể dân
tộc Việt Nam. Bởi vì, năm 1930 trong cương lĩnh chính trị thành lập Đảng đã
khẳng định con đường này, nó phù hợp với nguyện vọng của nhân dân và được nhân dân
theo Đảng hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc. Thứ hai, thành tựu Đảng ta
lãnh đạo dân tộc đạt được như ngày hôm nay là rất to lớn: Đánh thắng các thế
lực xâm lược lớn mạnh, bị cấm vận về kinh tế, cô lập về ngoại giao, nhưng Đảng
đã kiên trì Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa
trong quan hệ quốc tế, buộc Mỹ phải bãi bỏ cấm vận kinh tế, bình thường hóa qua
hệ với Việt Nam. Như vậy, Đảng ta lãnh đạo toàn dân khởi nghĩa giành chính
quyền, đánh thắng 2 cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp và Mỹ (1945-1975); cuộc
chiến tranh biên giới tây nam 1978, phía bắc năm 1979, xây dựng đất nước đạt được thành tựu to lớn về
mọi mặt. To lớn thể hiện là chúng ta xây dựng đất nước thuận tiện mới chỉ có từ
năm 1995 (sau khi Mỹ bãi bỏ cấm vận), chưa đầy 20 năm, mà thành tựu đạt được
như vậy phải là kỳ tích. Nếu như đất nước không bị xâm lược mà Đảng lãnh đạo có
hàng trăm năm hòa bình để xây dựng đất nước thì thành tựu chắc chắn to lớn hơn
nhiều. Vậy, làm gì phải từ bỏ con đường XHCN, làm gì phải đa nguyên chính trị,
đa đảng đối lập. Một minh chứng còn sống động như nước Ucraina sau khi tách
khỏi Liên bang Xô Viết năm 1991, từ bỏ thể chế XHCN, theo con đường trung lập
nhưng đến nay đất nước khủng hoảng triền miên, lạm phát tăng cao, xung đột phe
phái, nhân dân khổ cực,…điều đó nói nên rằng không phải đa đảng là tốt. Bởi vậy, thay vì kêu gọi thành lập đảng phái đối lập
với Đảng Cộng sản để được dân chủ hơn, tôi nghĩ các người nên hành
động cụ thể, thiết thực, nghiên cứu đề xuất những ý kiến hay hợp lòng dân ý
Đảng để hiện thực hóa mục tiêu mà Đảng đã đề ra, vì lợi ích dân tộc và nhân dân
thì tốt hơn.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét