Ý NGHĨA THẮNG LỢI CỦA CHIẾN DỊCH TÂY NGUYÊN
1975
PTX
Cách đây 50 năm (1975 - 2025), dưới sự lãnh đạo đúng đắn của
Đảng, quân và dân ta đã giành thắng lợi vang dội trong Chiến dịch Tây Nguyên.
Sau một tháng (04/3/1975 - 03/4/1975) liên tục chiến đấu bằng sức mạnh
tổng hợp quân ta đã xóa sổ hoàn toàn Quân đoàn 2 - Quân khu 2 của chính quyền
và quân đội Sài Gòn, giải phóng địa bàn chiến lược Tây Nguyên và một số tỉnh
Trung Bộ, làm thay đổi cơ bản so sánh lực lượng, thế chiến lược giữa ta và
địch, tạo bước ngoặt quyết định, đưa cuộc tiến công chiến lược của ta phát
triển thành Tổng tiến công trên toàn miền Nam Việt Nam. Thắng lợi của Chiến
dịch Tây Nguyên có tầm quan trọng về chiến lược, có giá trị lịch sử và hiện
thực sâu sắc đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước lúc bấy
giờ và đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Sau Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình
ở Việt Nam được ký kết ngày 27/01/1973, Mỹ phải rút quân khỏi miền Nam Việt
Nam, tạo ra sự thay đổi tương quan lực lượng có lợi cho cách mạng. Ta đã thực
hiện “đánh cho Mỹ cút” bằng chiến dịch phòng không Hà Nội - Điện Biên Phủ trên
không và nay phải tiếp tục “đánh cho ngụy nhào”. Đây là nhiệm vụ khó khăn bởi
chính quyền Sài Gòn được Mỹ chu cấp tiền, vũ khí, trang bị và “hà hơi tiếp sức”
nên cần phải có một quá trình chuẩn bị thế và lực mới. Sau khi có Nghị quyết 21
của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 7/1973), quân và dân ta đẩy mạnh hoạt
động tiến công địch nhằm tạo chuyển biến cục diện trên chiến trường. Quân ủy
Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh đã bắt tay vào xây dựng kế hoạch chiến lược giải
phóng miền Nam. Quá trình chuẩn bị Quân uỷ Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh đã tranh
thủ ý kiến các tư lệnh chiến trường, đến đầu năm 1975, kế hoạch chiến lược được
hoàn chỉnh. Theo đó, Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương quyết định chọn Nam Tây
Nguyên là hướng tiến công mở màn cho cuộc Tổng tiến công chiến lược. Nếu ta
giải phóng được Tây Nguyên, sẽ cắt đôi thế bố trí chiến lược của địch, mở ra
khả năng phát triển lực lượng tiến công xuống đồng bằng Khu 5 và các tỉnh miền
Đông Nam Bộ.
Để thực hiện quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị, Bộ Tổng
Tư lệnh quyết định tăng cường cho Tây Nguyên một số lượng lớn về lực lượng, vũ
khí, trang bị và tổ chức Bộ Tư lệnh tiền phương bên cạnh Bộ Tư lệnh Chiến dịch
để chỉ đạo trực tiếp. Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã tiến hành công tác chuẩn bị hết
sức chu đáo, tỉ mỉ. Các đơn vị tham gia Chiến dịch phải tuyệt đối giữ bí mật
trong quá trình cơ động, không để địch phát hiện ý định chiến dịch và lực lượng
ta trên hướng tác chiến chủ yếu (Buôn Ma Thuột); tích cực hoạt động nghi binh
làm lạc hướng chú ý của địch ở Trị - Thiên và Bắc Tây Nguyên (Kon Tum, Pleiku).
Ngày 04/3/1975, ta bắt đầu hoạt động cắt Đường số 19, đánh một số mục tiêu ở
Pleiku để nghi binh, tạo thế chiến dịch. Sau khi đã hoàn thành việc bày binh,
bố trận, ngày 10/3/1975 ta nổ súng tiến công, đánh đòn điểm huyệt Buôn Ma
Thuột. Bằng cuộc tiến công hiệp đồng binh chủng của các đơn vị, nhanh chóng
tiêu diệt sở chỉ huy Sư đoàn 23 và sở chỉ huy tiểu khu Đắk Lắk của quân đội Sài
Gòn, chiếm tất cả các vị trí trong thị xã, tiêu diệt và bắt làm tù binh toàn bộ
quân địch. Tiếp đó, ta nhanh chóng đập tan cuộc phản đột kích của Quân đoàn 2
địch hòng tái chiếm Buôn Ma Thuột, diệt Trung đoàn 44 và 45 thuộc Sư đoàn 23.
Đòn tiến công đánh bại cuộc phản đột kích của Sư đoàn 23 khiến địch càng hoảng
loạn, đẩy chúng từ sai lầm về chiến dịch tới sai lầm lớn về chiến lược. Đó là
rút bỏ Tây Nguyên theo Đường số 7 về đồng bằng duyên hải Nam Trung bộ. Cuộc
truy kích của quân và dân ta trên Đường số 7 đã xóa sổ Quân khu 2 địch, tiêu
diệt và làm tan rã một tập đoàn phòng ngự lớn, giải phóng địa bàn chiến lược
rộng lớn. Chiến dịch Tây Nguyên kết thúc và thắng lợi này có ý nghĩa sâu sắc
đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng, bảo vệ
Tổ quốc hiện nay, đó là:
Một là, thắng lợi của Chiến dịch Tây Nguyên năm 1975
là thắng lợi có giá trị quan trọng đặc biệt về chiến lược. Quá trình chuẩn
bị và thực hành Chiến dịch Tây Nguyên ta đã phát hiện và đánh giá đúng hệ thống
phòng thủ chiến lược của quân đội Sài Gòn. Đó là chúng bố trí lực lượng mạnh ở
hai đầu (Huế - Đà Nẵng và Sài Gòn), nhưng lại yếu và sơ hở quãng giữa (miền
Trung - Tây Nguyên). Trong đó địa bàn trọng điểm Tây Nguyên chính là đoạn yếu
địa nhất trên toàn bộ tuyến phòng thủ của quân đội Sài Gòn. Tây Nguyên không
những là địa bàn có ý nghĩa chiến lược được coi là “nóc nhà của Đông Dương” mà
còn giống như “sống lưng”, “chiếc đòn ghánh” cho hai đầu là Sài Gòn (phía Nam)
và Huế - Đà Nẵng (phía Bắc). Vì thế, khi ta tiến công Tây Nguyên và giành thắng
lợi sẽ làm rung chuyển toàn bộ hệ thống phòng thủ của địch; phá vỡ và chia cắt
thế bố trí chiến lược của quân đội Sài Gòn, làm cho chúng phải co cụm về phía
Nam; đẩy chúng vào thế hoang mang, bị động, lúng túng, đối phó với thế tiến
công của ta; tác động đến tinh thần binh sĩ địch trên khắp chiến trường, làm cho
chúng ăn không ngon, ngủ không yên, mất sức chiến đấu, tinh thần rệu rã.
Trái lại, với chúng ta, chiến thắng
của Chiến dịch Tây Nguyên năm 1975 đã cổ vũ, động viên mạnh mẽ tinh thần, khí
thế tiến công của quân và dân ta; củng cố quyết tâm chiến đấu và lòng tin của
toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vào thắng lợi cuối cùng. Chúng ta bước vào chiến dịch Tây Nguyên với tâm thế
của những người đang trên đường đi tới ngày thắng lợi cuối cùng, từng bước và
liên tục đánh bại quân xâm lược. Đồng thời chiến thắng của Chiến dịch
Tây Nguyên đã góp phần rèn luyện bản lĩnh, trình độ, khả năng tác chiến của bộ
đội ta. Thắng lợi này còn thể hiện rõ nét sự vận dụng sáng tạo đường lối chính
trị, quân sự của Đảng, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, nghệ thuật quân sự Việt Nam
vào thực tiễn chiến trường Tây Nguyên. Đó là thắng lợi của bản lĩnh và trí tuệ
Việt Nam mà nét tiêu biểu là sự chỉ đạo chiến lược và nghệ thuật quân sự độc
đáo của chiến tranh nhân dân phát triển tới đỉnh cao trong giai đoạn cuối của
sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đó còn là thắng lợi của ý chí quyết
chiến, quyết thắng, tinh thần chiến đấu quả cảm, mưu trí, sáng tạo của lực
lượng vũ trang, nhân dân và đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Chiến thắng đã mở
ra thời cơ cho cuộc Tổng tiến công chiến lược giải phóng hoàn toàn miền Nam,
thống nhất đất nước. Khi thời cơ xuất hiện, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương
tiếp tục chỉ đạo quân và dân ta chớp đúng thời cơ, liên tiếp mở đòn tiến công
chiến lược vào Huế - Đà Nẵng thông qua các chiến dịch Nam Ngãi, chiến dịch Bình
Trị Thiên, chiến dịch Đà Nẵng để chuẩn bị cho đòn quyết chiến chiến lược cuối
cùng giải phóng Sài Gòn - Gia Định, thống nhất đất nước bằng chiến dịch Hồ Chí
Minh.
Chiến thắng Tây Nguyên năm 1975 còn là một ví dụ điển hình về
chiến lược thông minh và khả năng lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt
Nam, đóng góp quan trọng vào thắng lợi cuối cùng của Tổng tiến công và nổi dậy
Xuân 1975 chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, thống nhất đất nước,
tiến lên chủ nghĩa xã hội. Cuộc Tổng tiến công đã bắt đầu bằng việc chọn Tây
Nguyên làm điểm đầu tiên để tấn công, vùng đất quan trọng vị trí chiến lược tại
miền Nam. Lựa chọn tiếnn công Tây Nguyên thể hiện nhãn quan chiến lược sắc bén
của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương trong việc nắm bắt cơ hội chiến lược và
làm suy yếu địch. Chiến thắng này còn thể hiện sự đoàn kết và lý tưởng cách
mạng của quân đội và nhân dân Việt Nam. Chính lý tưởng cách mạng, tinh thần
đoàn kết cùng với sự ủng hộ, chiến đấu, hy sinh của toàn thể nhân dân Việt Nam,
trực tiếp là đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đã đánh bại một lực lượng quân sự
mạnh có sự hỗ trợ của Mỹ.
Hai là, chiến thắng Tây
Nguyên năm 1975 mang ý nghĩa sâu sắc về nghệ thuật quân sự. Chiến thắng Tây Nguyên năm 1975 là một ví dụ điển hình về nét
đặc sắc của nghệ thuật chiến dịch. Đó là quân và dân ta đã đánh đúng vào
nơi hiểm yếu nhất của quân đội Sài Gòn là Buôn Ma Thuột và khiến cho chúng “yếu
hơn” bằng cách nghi binh điều chúng lên Bắc Tây Nguyên (Kon Tum, Pleiku); đồng
thời, chúng ta bí mật cơ động một số lượng lớn lực lượng, binh khí xuống Buôn
Ma Thuột mà quân địch không hề biết. Nhờ vậy ta đã tập trung ưu thế lực
lượng áp đảo ở nơi cần thiết, tạo ra yếu tố bất ngờ. Chúng ta đã bố trí
thế trận hiểm, chia cắt chiến lược và chiến dịch
khiến các cụm quân địch bị cô lập. Từ đó buộc chúng phải chấp nhận các tình
huống mà quân ta đã dự kiến.
Ví dụ như do thế trận của quân ta nên địch chỉ còn một khả năng duy nhất là đổ
quân bằng trực thăng xuống đường 21 sau khi mất Buôn Ma Thuột. Tại đây, quân
ta đã bố trí sẵn Sư đoàn 10 và Trung đoàn 25. Có nghĩa là địch đã bị điều
theo đúng ý định của ta, rơi vào đúng kế, đúng nơi ta đã chuẩn bị sẵn để “đón
lõng” chúng. Nắm đúng thời điểm quân địch rút chạy, quân và dân ta đã
kịp thời, kiên quyết truy kích tiêu diệt lớn quân địch, đưa chúng đến thất bại
chưa từng có; ngoại trừ một nguyên nhân khách quan rằng Quân đoàn 2 của quân
đội Sài Gòn tự tan rã quá nhanh làm mất mát đến 1/4 lực lượng chính quy[1].
Chiến thắng Tây Nguyên
là bước khởi đầu quan trọng dẫn đến sự sụp đổ về chiến lược của quân đội Sài
Gòn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển đổi cuộc kháng chiến của ta từ
tiến công chiến lược tại Tây Nguyên thành Tổng tiến công chiến lược trên toàn
miền Nam. Khi thế trận của quân đội Sài Gòn bị rung chuyển, đảo lộn khiến cho
chúng thực sự hoảng sợ và hỗn loạn thì quân và dân ta đã khai thác triệt
để điều này, nhanh chóng phát triển các đòn tiến công chiến lược khiến cho
chiến thắng đến với chúng ta càng nhanh hơn. Báo Nhân dân khẳng định:
“Chiến dịch Tây Nguyên thực sự là đòn điểm huyệt đối với quân đội Việt Nam cộng
hòa trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, mở đầu cho sự cáo
chung của chế độ Sài Gòn”[2]. Đòn điểm huyệt này đã làm cho địch thì
hoang mang, mất thế, suy sụp; trong khi đó thế, lực, sức mạnh chiến đấu của ta
được nhân lên gấp bội để nhanh chóng giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất
đất nước.
Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp, nguyên Chính ủy Chiến dịch Tây
Nguyên sau này đã khẳng định lại: “Chiến thắng Buôn Ma Thuột mãi mãi là dấu son
trên trang sử vẻ vang của quân đội ta. Nó là kết quả của cả một quá trình chuẩn
bị lâu dài của quân và dân Tây Nguyên. Nếu chúng ta đều biết tới hình ảnh từng
đoàn dân công gồm cả người già, trẻ em của các buôn làng đã đi gùi đạn, gùi
gạo, mở đường cho chiến dịch; nếu chúng ta biết tới những đồng chí cán bộ của
Đảng đã từng cà răng căng tai, sống hàng vài chục năm với đồng bào các dân tộc
Tây Nguyên để bám dân, bám đất xây dựng địa bàn, xây dựng chỗ cho chúng ta đứng
chân mà đánh giặc; nếu chúng ta biết rằng trước khi chúng ta có xe pháo mà mở
những trận đánh lớn như vậy đã có hàng ngàn đồng chí đi trước mở đường, mở địa
bàn, giành đi giật lại với địch từng tấc đất trong điều kiện đói cơm, rách áo,
thiếu thuốc men, thiếu vũ khí kéo dài hàng chục năm ròng để chúng ta có những
quân hùng tướng mạnh mà đánh địch với thế mạnh như chẻ tre. Nếu chúng ta biết
một cách đầy đủ tất cả những gì diễn ra trước khi có trận Buôn Ma Thuột, có mùa
xuân cao nguyên 1975, thì chúng ta càng thấy tự hào hơn về Đảng ta, nhân dân ta
và quân đội ta”[3].
Kỷ niệm 50 năm Chiến thắng của Chiến dịch Tây Nguyên là dịp
để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta ôn lại truyền thống hào hùng;
tưởng nhớ, tri ân các anh hùng liệt sĩ, cán bộ, chiến sĩ, nhân dân và
đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đã cống hiến, hy sinh xương máu làm nên
chiến thắng lẫy lừng; đồng thời đánh giá khách quan, toàn diện hơn về ý
nghĩa to lớn của sự kiện này; rút ra những kinh nghiệm quý để vận dụng vào sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phát huy tinh thần Chiến thắng Tây Nguyên,
toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm các
nghị quyết, chỉ thị của Đảng về bảo vệ Tổ quốc; nhất là Nghị quyết số 44-NQ/TW
ngày 23/11/2023 về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; chăm lo xây dựng
lực lượng, tiềm lực, thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân vững mạnh,
ngày càng hiện đại. Tiếp tục nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, vận dụng
sáng tạo nét độc đáo của nghệ thuật quân sự Việt Nam vào tiến hành chiến tranh
nhân dân bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới. Đẩy mạnh xây dựng Quân đội nhân
dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, tinh, gọn,
mạnh, vững
mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, giữ vững và phát huy
phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, thực hiện tốt chức năng đội quân chiến đấu, đội
quân công tác, đội quân lao động sản xuất, thực sự là lực lượng
nòng cốt bảo
vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống./.
[1] Cao Văn Viên - những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng hoà. Dẫn theo Phạm Ngọc Thạch, Hồ Khang và tập thể tác giả, Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954 -1975, Tập VIII, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008, tr.273.[3] Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Tập VIII, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008, tr.165.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét