Thứ Năm, 20 tháng 5, 2021

 NHÀ NƯỚC VIỆT NAM ĐỐI VỚI VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ HIỆN NAY

Nhân Trần

Thứ nhất, xây dựng Hiến pháp, pháp luật, chính sách về quyền con người

Trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, Nhà nước ta đã nỗ lực xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về quyền con người (QCN), tạo ra những thay đổi tích cực trong hoạt động xây dựng và hoạch định chính sách, pháp luật. Phương pháp tiếp cận dựa trên quyền con người đặt con người vào “vị trí trung tâm”, “mọi mục tiêu, động lực của sự phát triển là vì con người, do con người”, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của con người đã trở thành một nguyên tắc trong hoạch định chính sách, pháp luật của nhà nước. Nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng và bảo vệ QCN, minh bạch hóa trách nhiệm nhà nước đã được thẩm thấu vào trong quy trình xây dựng luật pháp và chính sách về QCN, góp phần vào sự phát triển kinh tế, ổn định xã hội, tiền đề quan trọng cho việc bảo đảm QCN.

Xuất phát từ nghĩa vụ quan trọng và cơ bản “định ra các đạo luật” xác định QCN và quyền công dân, quản lý xã hội theo pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, Nhà nước ta đã từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo cơ sở pháp lý cho việc bảo đảm QCN. Chẳng hạn, từ khi đổi mới và hội nhập đến nay, Việt Nam đã hai lần sửa đổi Hiến pháp vào năm 1992 và năm 2013, đánh dấu sự đổi mới quan trọng của Nhà nước Việt Nam trong tư duy pháp lý về QCN. Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam, quyền con người được chính thức ghi nhận trong Hiến pháp năm 1992, đó là “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật” (Điều 50). Từ quy định có tính nguyên tắc này, Hiến pháp năm 2013 đã mở rộng chủ thể của QCN nói chung cũng như các quyền và tự do cơ bản của công dân nói riêng. Nếu như ở Hiến pháp năm 1992, khái niệm quyền con người chỉ chủ yếu dừng lại ở chủ thể là “công dân” thì ở Hiến pháp năm 2013, các chủ thể của QCN thuộc về tất cả mọi người chứ không chỉ là công dân. Việc ghi nhận này có ý nghĩa quan trọng trong việc nội luật hóa các Công ước quốc tế về QCN mà Việt Nam là thành viên, phù hợp với xu thế hội nhập và phát triển, đồng thời, quan trọng hơn là tránh được sự nhầm lẫn giữa QCN và quyền công dân thường mắc phải trong các Hiến pháp trước đó. Đặc biệt, Hiến pháp năm 2013 đã bổ sung thêm một số quyền mới mang tính thực tế, phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội, thể hiện vai trò làm chủ thực chất của người dân như: quyền được giữ bí mật thông tin; quyền tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương; quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân; quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và danh dự; quyền được sở hữu về thu nhập hợp pháp, về nhà ở; quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề pháp luật không cấm; quyền được hưởng thụ các giá trị văn hóa, sử dụng các giá trị văn hóa, quyền được sống trong môi trường trong lành,...

Việc ghi nhận các quyền mới của con người trong Hiến pháp năm 1992 và năm 2013 đã phản ánh xu thế hội nhập của đất nước, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc bảo đảm QCN ở Việt Nam. Điều này cũng thể hiện những nỗ lực của Nhà nước Việt Nam trong việc tôn trọng và thừa nhận QCN phổ biến được ghi nhận trong pháp luật quốc tế, là sự năng động, nhạy bén của Nhà nước trong việc xử lý mối quan hệ biện chứng giữa QCN phổ biến với đặc thù về lịch sử, văn hóa, kinh tế, chính trị của các quốc gia, giữa luật quốc tế và pháp luật quốc gia trong quá trình xây dựng và thực thi pháp luật để vừa bảo đảm lợi ích quốc gia, vừa tuân thủ những quy định và cam kết quốc tế, bảo đảm tốt hơn các quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.

Cùng với việc ghi nhận quyền bình đẳng của công dân trước pháp luật, Hiến pháp năm  1992 và sau này là Hiến pháp năm 2013 quy định về bản chất quyền lực của Nhà nước Việt Nam là “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân”. Do đó, trách nhiệm của Nhà nước là phải “bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân,...” (Điều 3, Hiến pháp năm 2013). Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ. Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền (Điều 8). Vì vậy, nghĩa vụ của Nhà nước là: tạo mọi điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân (Điều 28); tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội (Điều 59),... Các quy định trên một lần nữa khẳng định nghĩa vụ của Nhà nước không chỉ là ghi nhận QCN mà còn có trách nhiệm tạo ra các cơ chế để bảo đảm QCN đã được ghi nhận.

 Bên cạnh việc nâng cao số lượng và chất lượng QCN trong Hiến pháp, Nhà nước chú trọng nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật, ban hành các văn bản luật với các quy định cụ thể, dễ thực hiện, giảm dần các luật, pháp lệnh chỉ dừng lại ở các nguyên tắc chung nhằm giảm bớt việc ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành. Nhiều bộ luật được sửa đổi và ban hành mới đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn, bảo đảm tốt hơn các quyền của người dân như: Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, Luật về Trách nhiệm bồi thường của nhà nước, Luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Bảo hiểm y tế, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Người lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, Luật Người cao tuổi,...

Những kết quả đạt được trong việc ban hành chính sách, pháp luật về QCN của Nhà nước ta những năm qua là một bước tiến lớn trong quá trình hoàn thiện chính sách, pháp luật về QCN, phù hợp với thực tiễn đòi hỏi trong nước cũng như đáp ứng các yêu cầu của quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế. Các nguyên tắc, tiêu chuẩn về QCN trong luật Nhân quyền quốc tế đã được quán triệt và trở thành nội dung quan trọng của văn bản pháp luật Việt Nam về QCN, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho các hoạt động bảo vệ và thực thi QCN.

Thứ hai, tổ chức thực thi Hiến pháp, pháp luật và chính sách bảo đảm quyền con người

Trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, việc bảo đảm QCN trong hoạt động thực thi Hiến pháp, pháp luật, chính sách đã được Nhà nước Việt Nam quan tâm một cách tích cực. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang Bộ, chính quyền địa phương các cấp đã áp dụng một số biện pháp chủ yếu sau:

Hướng dẫn, tổ chức và kiểm tra việc thực hiện các Chỉ thị, Nghị quyết của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương về những vấn đề chung, có ý nghĩa chiến lược về bảo đảm QCN. Nổi bật nhất trong hoạt động này là Quyết định số 366/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ (11/3/2011) Ban hành kế hoạch triển khai thực hiện Chỉ thị 44-CT/TW ngày 20/7/2010 của Ban Bí thư về công tác nhân quyền trong tình hình mới.

Với mục tiêu tạo sự chuyển biến tích cực về bảo đảm QCN, Quyết định số 366/QĐ-TTg đã cụ thể hóa một bước quan trọng nghĩa vụ bảo đảm QCN đối với một số bộ, cơ quan ngang bộ, chính quyền địa phương. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đóng vai trò kiểm tra, giám sát, phân bổ nguồn lực, tăng cường năng lực bảo đảm QCN trong hoạt động của các cơ quan nhà nước.

Hướng dẫn, tổ chức và kiểm tra việc thực hiện pháp luật của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhằm bảo đảm các quyền đã được công nhận trong Hiến pháp như: quyền bầu cử, ứng cử và tham gia quản lý nhà nước, xã hội; quyền khiếu nại, tố cáo; quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng; quyền tiếp cận giáo dục, y tế; các quyền về lao động, việc làm, an sinh xã hội;...

Đây là hoạt động có ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng, gắn với quá trình cung cấp các biện pháp cụ thể và hành chính, kinh tế, quy tắc, thủ tục, các dịch vụ xã hội cho việc bảo đảm QCN và ngăn chặn các hành vi vi phạm QCN theo pháp luật. Do vậy, nó thường có tác động nhanh và sâu sắc đến thực tiễn bảo đảm QCN của các cơ quan công quyền ở trung ương và địa phương.

Lồng ghép QCN vào quá trình xây dựng, tổ chức thực hiện các chương trình, chính sách phát triển. Hoạt động này phản ánh những đổi mới trong tư duy phát triển của Đảng, Nhà nước Việt Nam, phù hợp với chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tăng trưởng kinh tế kết hợp hài hòa với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Trong thời kỳ đổi mới, nhiều chương trình, chính sách phát triển của Việt Nam đã có những quy định tác động đến bảo đảm QCN như: Chương trình Cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010 và 2011 - 2020; Chương trình Mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo giai đoạn 2001 - 2005, 2006 - 2010, 2012 - 2015; Chương trình Mục tiêu quốc gia về việc làm giai đoạn 2006 - 2010; Chương trình Hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo (Chương trình 134); Chương trình Phát triển kinh tế - xã hội ở các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc miền núi, biên giới và vùng sâu, vùng xa (Chương trình 135); Chương trình xây dựng nông thôn mới,...

Nhìn tổng thể, những chương trình, chính sách nêu trên đã hỗ trợ tích cực cho người dân phát huy quyền làm chủ của mình trong quản lý nhà nước, xã hội; tiếp cận thuận lợi hơn với các dịch vụ về việc làm; đào tạo nghề; trợ giúp pháp lý; y tế, giáo dục, an sinh xã hội;... hạn chế gia tăng phân hóa giàu nghèo và góp phần thực hiện mục tiêu công bằng xã hội trong quá trình phát triển.

Trực tiếp áp dụng các biện pháp mang tính sáng tạo, phù hợp với bối cảnh cụ thể của từng ngành, từng địa phương nhằm nâng cao năng lực hưởng thụ các quyền của người dân, đặc biệt là của các nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương. Hoạt động này gắn với những sáng kiến đa dạng của các ngành, các địa phương như: tuyên truyền, nâng cao nhận thức về QCN cho cán bộ, công chức, viên chức, các tầng lớp nhân dân; xây dựng các dịch vụ xã hội thân thiện, dễ tiếp cận; đào tạo nguồn nhân lực cho những vùng khó khăn; hỗ trợ trực tiếp cho các nhóm dễ bị tổn thương trước những hiểm họa như thiên tai, mất mùa, dịch bệnh,...

Thứ ba, xây dựng và củng cố các thiết chế bảo đảm quyền con người

Cùng với việc thúc đẩy nâng cao hiệu quả hoạt động thực thi pháp luật về quyền con người, Nhà nước Việt Nam đặc biệt chú trọng tới việc xây dựng và củng cố các thiết chế bảo đảm QCN. Theo Hiến pháp năm 1992 và hiện nay là Hiến pháp năm 2013, các thiết chế nhà nước có nghĩa vụ bảo đảm QCN gồm: Quốc hội; Chính phủ, các cơ quan Tư pháp (Tòa án, Viện kiểm sát), các bộ, ngành có liên quan và chính quyền địa phương các cấp. Những năm qua, Nhà nước Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc đổi mới, kiện toàn tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước và đã thu được nhiều thành tựu quan trọng. Hầu hết các cơ quan nhà nước đã được tổ chức, sắp xếp lại theo hướng gọn nhẹ, chuyên môn hóa, hoạt động hiệu quả theo cơ chế phân công và phối hợp trong ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm hạn chế sự lạm dụng quyền, xâm phạm lợi ích hợp pháp của công dân từ phía các cơ quan nhà nước.

Không chỉ hoàn thiện các cơ quan trong tổ chức bộ máy nhà nước, Nhà nước ta còn đặc biệt chú trọng tới việc xây dựng các cơ quan chuyên môn, chuyên trách về QCN như: Ban chỉ đạo Nhân quyền Chính phủ và các địa phương; xây dựng và hoàn thiện tổ chức của các cơ quan chuẩn bị và thực hiện Báo cáo tình hình thực hiện các Công ước quốc tế về QCN mà Việt Nam là quốc gia thành viên.

Bên cạnh việc xây dựng, hoàn thiện tổ chức của Ban chỉ đạo về Nhân quyền, Chính phủ, Nhà nước có nhiều nỗ lực trong việc xây dựng và hoàn thiện Báo cáo Nhân quyền trong khuôn khổ Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc cũng như các hoạt động hợp tác quốc tế khác trên lĩnh vực.

 Đặc biệt, trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay, để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, ngăn chặn việc lạm dụng quyền lực của các cá nhân, tổ chức trong bộ máy nhà nước, Việt Nam đang nghiên cứu và xúc tiến việc thành lập Ủy ban Nhân quyền quốc gia để theo dõi, giám sát, tư vấn việc thực thi QCN trên các lĩnh vực: ban hành pháp luật; thực thi Hiến pháp, pháp luật; hoạt động điều tra, truy tố, xét xử; xem xét về tính tương thích của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia về QCN;…

Thứ tư, huy động sự tham gia của các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp vào quá trình bảo vệ, thúc đẩy quyền con người

Phù hợp với quy định về quyền lập hội trong Tuyên ngôn thế giới về QCN (1948) và Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (1966), Hiến pháp, pháp luật Việt Nam thời kỳ đổi mới đã tạo thuận lợi cho hoạt động của các tổ chức này trong quá trình bảo vệ QCN. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Trong thời kỳ đổi mới, nhiều tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, như công đoàn, nông dân, thanh niên, phụ nữ, cựu chiến binh; các cơ quan báo chí, truyền thông; các tổ chức xã hội, nghề nghiệp;... đã đóng vai trò ngày càng tích cực trong những hoạt động: giám sát và phản biện xã hội; tuyên truyền, nâng cao nhận thức về QCN; thúc đẩy bình đẳng giới; trợ giúp pháp lý, nâng cao năng lực cho các nhóm xã hội dễ bị tổn thương; xóa đói giảm nghèo; tham gia các hoạt động giám sát việc thực thi chính sách, pháp luật của các cơ quan, tổ chức nhà nước; giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân; giám sát việc thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở,… nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quản lý nhà nước và trong hoạt động của các tổ chức kinh tế, xã hội.

Thứ năm, tuyên truyền, giáo dục về quyền con người

Trong thời kỳ đổi mới, đặc biệt từ sau khi có Chỉ thị 12-CT/TW (1992) của Ban Bí thư, hoạt động tuyên truyền, giáo dục QCN đã được tích cực triển khai dưới nhiều hình thức khác nhau. Chẳng hạn từ năm học 1998 - 1999, môn học Lý luận về QCN đã được đưa vào giảng dạy chính thức tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Tiếp đó, nhiều chương trình nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục về nhân quyền được triển khai thực hiện tại các trường chính trị, hành chính, Ban Chỉ đạo về Nhân quyền của Chính phủ, các trường đại học, các viện nghiên cứu,... Bên cạnh đó, hoạt động tuyên truyền, tập huấn về nhân quyền còn được thực hiện thông qua một số dự án hợp tác quốc tế của Quốc hội, Chính phủ; của các ngành, các cơ quan như: ngoại giao, tư pháp, công an, báo chí, tôn giáo, dân tộc và của các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp. Trong những năm gần đây, hoạt động tuyên truyền, giáo dục về nhân quyền liên tục được mở rộng, được lồng ghép vào nhiều môn học và một số chương trình đào tạo sau đại học. Đến nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã cho phép đào tạo Thạc sĩ về QCN ở ba cơ sở đào tạo là: Khoa Luật thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, Học viện Khoa học Xã hội, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Những hoạt động tuyên truyền, giáo dục nêu trên đã góp phần tích cực nâng cao nhận thức về QCN cho đội ngũ lãnh đạo, quản lý các cơ quan Đảng, Nhà nước; cán bộ thực thi pháp luật; sinh viên các trường đại học; thành viên một số tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp.

Thứ sáu, hợp tác và hội nhập quốc tế trên lĩnh vực quyền con người

Để phát huy tốt vai trò, nâng cao uy tín quốc tế và hội nhập vào đời sống chính trị - xã hội quốc tế, Việt Nam đã gia nhập, phê chuẩn hầu hết các công ước quốc tế chủ chốt về QCN. Từ những năm 1980, Nhà nước đã thực hiện tương đối đầy đủ và bảo đảm thời gian hoàn thành nghĩa vụ bảo vệ các Báo cáo quốc gia của các Công ước Nhân quyền quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Việt Nam hiện là thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2014 - 2016). Trong việc thực hiện QCN theo Cơ chế Rà soát định kỳ phổ quát (UPR), Việt Nam đã bảo vệ thành công báo cáo của mình tại cả hai chu kỳ (1 và 2) năm 2009 và 2014, đồng thời tiếp thu các ý kiến đóng góp xây dựng của các nước khác, cũng như tích cực đóng góp ý kiến cho các quốc gia khác về tình hình thực hiện QCN tại các chu kỳ này.

Nhà nước Việt Nam đã thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ trả lời và giải quyết kháng thư của Liên hợp quốc. Trong việc thực thi nghĩa vụ thực hiện các Thủ tục đặc biệt (Special Procedures - SP) cho đến nay, Việt Nam đã đón các chuyên gia về các vấn đề người thiểu số; đói nghèo cùng cực và nhân quyền; tác động của nợ nước ngoài đối với nhân quyền, quyền được chăm sóc y tế; Báo cáo viên đặc biệt về quyền văn hóa và tôn giáo. Việt Nam đăng cai tổ chức nhiều hội thảo quốc tế về QCN như: Hội thảo về Công ước quốc tế chống tra tấn và đối xử vô nhân đạo (tháng 12/2003); Hội thảo Việt Nam - EU về Án tử hình (tháng 11/2004), Hội thảo về QCN lần thứ 6 (tháng 12/2004),... Tại các hội thảo này, Việt Nam đã tạo cơ hội để các đại biểu quốc tế hiểu rõ hơn về chính sách, pháp luật của Việt Nam về QCN. Đây thực sự là diễn đàn trao đổi cởi mở, thẳng thắn, công khai nhằm thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau.

Trong phạm vi khu vực, cùng các nước thành viên ASEAN, Việt Nam đã có những đóng góp tích cực vào việc thành lập Ủy ban Liên Chính phủ ASEAN về Nhân quyền (AICHR), Ủy ban ASEAN về bảo vệ và thúc đẩy các quyền của phụ nữ và trẻ em (ACWC) và Tuyên bố Nhân quyền ASEAN (tháng 11/2012). Qua đó thể hiện cam kết và quyết tâm cao của Nhà nước Việt Nam trong việc tôn trọng và thúc đẩy các QCN  cũng như các quy định của pháp luật quốc tế về QCN./.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét