Thứ Tư, 12 tháng 2, 2020


VAI TRÒ CỦA LỰC LƯỢNG BIỆT ĐỘNG
TRONG TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY
XUÂN MẬU THÂN 1968
                                                                                                              Nhân Trần
          Trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân mậu Thân 1968 lực lượng Biệt động được Trung ương Cục và Bộ Tư lệnh Miền giao nhiệm vụ vận động quần chúng tiến hành tổng khởi nghĩa và đánh phá các cơ quan đầu não của địch; trong đó, trọng trách hàng đầu là đánh vào các cơ quan đầu não của Mỹ - Ngụy; dự kiến lúc đầu 25, sau rút lại còn 9 mục tiêu trong nội thành theo phương pháp: Biệt động tập kích, đánh chiếm bất ngờ bên trong tạo thành bàn đạp; sau đó các Tiểu đoàn chủ lực mũi nhọn và lực lượng quần chúng nổi dậy hỗ trợ đánh dứt điểm mục tiêu. Đây là một nhiệm vụ hết sức nặng nề, khó khăn, phức tạp nhưng cũng rất vinh quang đối với lực lượng Biệt động. Để thực hiện nhiệm vụ này, các đội Biệt động mang bí số từ 1 đến 9 với hơn 100 cán bộ, chiến đấu viên nhanh chóng được kiện toàn và tổ chức thành 3 cụm. Cụm thứ nhất gồm các đội 3,4,5 tiến công dinh Độc Lập, Đài phát thanh Sài Gòn, Bộ tư lệnh Hải quân Ngụy. Cụm thứ hai gồm các đội 6,7,9 đánh vào Bộ Tổng tham mưu Ngụy. Cụm số ba gồm các đội 1,2,8 đánh phá vào sân bay Tân Sơn Nhất, Biệt khu Thủ đô, Tổng nha cảnh sát và nhà lao Chí Hòa. Vào giờ chót, cấp trên quyết định giao thêm cho Biệt động tiến công tòa Đại sứ Mỹ. Theo đó đội Biệt động số 11 được thành lập nằm trong cụm thứ nhất và đảm nhận nhiệm vụ này.
          Nếu xét về tương quan lực lượng tại Sài Gòn, địch chiếm ưu thế hoàn toàn cả về binh lực, hỏa lực và phương tiện. Lực lượng của chúng lên tới 8 sư đoàn, các tiểu đoàn thủy quân lục chiến cùng 20 vạn lính địa phương và các đơn vị cơ giới, binh chủng đóng dày đặc vòng trong, vòng ngoài. Nhưng chúng có một điểm yếu chí mạng đó là sự sơ hở, tâm lý chủ quan, coi thường khả năng của ta. Đồng thời, với Biệt động địch luôn có điểm yếu cố hữu mang tính quy luật là “vỏ cứng nhưng ruột mềm”, tức là nếu ta lọt được vào bên trong, đánh từ trong ra dễ gây rối loạn, biến động lớn. Nhưng vấn đề khó khăn nhất là làm như thế nào để lọt được vào bên trong an toàn, vận chuyển vũ khí trang bị, tiếp cận mục tiêu trước giờ G mà không bị lộ bởi Sài Gòn và các mục tiêu trọng yếu đó là nơi địch canh gác, bố phòng rất cẩn mật. Và chúng ta đã làm được điều này; đây là nghệ thuật chuẩn bị tác chiến, tạo lập thế trận của lực lượng Biệt động, là kết quả của quá trình “thọc sâu, bám trụ, bung ra”, dựa vào dân để xây dựng các cơ sở bí mật với tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” đầy mưu trí, kỷ luật của cán bộ, chiến sĩ Biệt động.
          Giải quyết vấn đề này, Khu ủy - Bộ tư lệnh Quân khu Sài Gòn - Gia Định đã sớm chỉ đạo lực lượng Biệt động xây dựng hệ thống, mạng lưới cơ sở mật trong nội thành (gọi là “lõm chính trị”) hết sức công phu, tạo thành bàn đạp vững chắc. Tính đến cuối năm 1967, ta đã thiết lập được 19 “lõm chính trị” là các cơ sở giao liên, các địa điểm tạm trú, vị trí giấu quân, hầm chứa vũ khí trang bị ngay sát những mục tiêu trọng yếu của địch với tổng số 325 gia đình, tạo thành 400 điểm giấu quân và 12 kho vũ khí bí mật. Đồng thời, với kỹ thuật ngụy trang tài tình, khôn khéo, đầy mưu trí, Biệt động đã qua mặt sự kiểm soát gắt gao của địch; vận chuyển bí mật, an toàn vào nội thành một khối lượng lớn vũ khí, trang bị phục vụ chiến đấu mà chúng không hề hay biết. Bằng con đường hợp pháp các chiến sĩ Biệt động đã đột nhập an toàn vào thành phố từ nhiều hướng, gặp nhau tại điểm hẹn, bám sát mục tiêu, nhận nhiệm vụ, xây dựng phương án, chuẩn bị vũ khí và hoàn tất công tác chuẩn bị, giữ được yếu tố bí mật, bảo đảm thành công một phần của trận đánh. 
          Đúng giờ nổ súng, tại Đài phát thanh Sài Gòn, 11 chiến sĩ của đội 5, sau 5 phút tiến công chiếm được đài phát sóng. Địch dùng cả trực thăng, xe tăng, bộ binh đánh giải tỏa. Các chiến sĩ Biệt động chiến đấu vô cùng quả cảm, giữ trận địa đến 6 giờ sáng hôm sau; tiêu hao nặng một đại đội lính dù và 1 trung đội bảo an, diệt 38 tên, bắn cháy 2 xe bọc thép. Do không có lực lượng tiếp ứng nên ta đành phá hủy đài, 10/11 chiến sĩ Biệt động hy sinh. Tại Dinh Độc Lập, 15 chiến sĩ đội 4 tiến công vào cổng hông đường Nguyễn Du, lọt vào bên trong khuôn viên, bị hy sinh 8, còn lại 7 đồng chí hầu hết bị thương, trụ lại chiến đấu đến 02 Tết; diệt 50 tên địch, bắn cháy 2 xe Jép. Tại Bộ tư lệnh Hải quân, đội 3 gồm 14 đồng chí tiến công và chiếm giữ nhiều vị trí quan trọng trong 3 giờ; sau đó địch huy động lực lượng bao vây và phản kích, 12 chiến sĩ Biệt động hy sinh, 2 đồng chí bị bắt. Tại Đại sứ quán Mỹ, 17 chiến sĩ đánh chiếm đến tầng 2, phá hủy một số phòng tài liệu; sau hơn 1 ngày địch đổ quân xuống sân thượng và dùng chất độc hóa học đánh chiếm lại. Chúng đưa tin 5 binh sĩ Mỹ tử thương, 22 trọng thương chết tại bệnh viện; số bị thương lên tới 124 tên. Ta hy sinh tại chỗ 16, còn lại 1 đồng chí bị địch bắt. 
          Tại Bộ tổng tham mưu Ngụy, cụm Biệt động thứ hai với 27 tay súng tiến công mạnh vào cổng số 5 trước bãi xe Tân Bình. Địch với số quân đông gấp bội nhưng bị bất ngờ, phải mất 02 giờ sau mới phản kích lại được và trận đánh kéo dài trên đoạn đường Hoàng Văn Thụ cho đến ngày 03 Tết mới chấm dứt. Địch chết và bị thương gần 100 tên, 2 xe thiết giáp và 1 đại liên bị phá hủy. Ta hy sinh 2, còn lại hầu hết bị thương và phải rút lui do hết đạn.
          Cụm biệt động thứ ba không thực hiện được kế hoạch đánh vào Biệt khu Thủ đô và Tổng nha Cảnh sát do hành quân chậm. Đội Biệt động số 9 không hoàn thành nhiệm vụ đánh nhà lao Chí Hòa, giải thoát tù nhân, do giữa đường đụng địch phải nổ súng chiến đấu và sau đó rút lui.
          Như vậy, lực lượng Biệt động đã đánh đúng, đánh trúng 5/9 mục tiêu là cơ quan đầu não trọng yếu của Mỹ - Ngụy ngay tại sào huyệt của chúng. Các trận đánh mà đặc biệt là trận tiến công vào Đại sứ quán Mỹ đã gây tiếng vang lớn, làm chấn động mạnh đến tinh thần chiến đấu của địch và giới lãnh đạo Lầu năm góc cũng như Nhà trắng. Trong cuốn sách viết về Xuân Mậu Thân 1968 của Đon Obơđophơ (người Mỹ) đã mô tả “tuy là một trận đánh nhỏ về số người tham gia nhưng đã kích động mạnh công chúng nước Mỹ cả về chính trị và tâm lý. Sứ quán là nơi quốc kỳ Mỹ chính thức cắm trên lãnh thổ miền Nam Việt Nam, là điểm tượng trưng cho mọi cố gắng và quyền lực của Mỹ. Trận đánh làm cho người ta nghĩ rằng Cộng sản mạnh hơn nhiều so với Chính phủ Mỹ mô tả và như vậy chiến tranh còn lâu mới kết thúc”. Sang đợt 2, 3 tuy bị thiệt hại nhưng Biệt động đã phối hợp với các đơn vị mũi nhọn thọc sâu và cùng quần chúng nhân dân đánh chiếm, làm chủ nhiều khu vực gây cho địch những tổn thất lớn.
          Là lực lượng chiến đấu tinh nhuệ, Biệt động đã khẳng định được vị trí, vai trò xung kích của mình trong thời điểm lịch sử quan trọng. Bằng nghệ thuật chiến đấu đặc sắc và cách đánh hiểm, bất ngờ, hiệu quả vào trung tâm đầu não của Mỹ - Ngụy và với những chiến công xuất sắc, Biệt động đã giáng đòn làm rung chuyển toàn bộ quân địch, góp phần không nhỏ vào thắng lợi của Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, tạo bước ngoặt mới, làm thay đổi cục diện chiến tranh, đưa cuộc kháng chiến tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn. Từ quá trình tổ chức, bảo đảm và tác chiến của lực lượng Biệt động trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 tại Sài Gòn - Gia Định, rút ra bài học quý báu đó là phải luôn dựa vào dân, xây dựng cơ sở vững chắc, nắm quyền chủ động, lựa chọn mục tiêu tiến công táo bạo, chuẩn bị thế tiến công bí mật, bất ngờ. Khi nổ súng tiến công thì mưu trí, quả cảm, đánh trúng đầu não địch; vận dụng cách đánh sở trường, nghệ thuật quân sự lấy ít đánh nhiều, đánh đúng thời cơ, hiểm hóc, đạt hiệu quả cao. Phát huy cao độ tinh thần tác chiến độc lập, biết tổ chức giỏi, bí mật cao, kỷ luật tốt khi tác chiến trong lòng địch để hoàn thành trọng trách trong thời điểm lịch sử quan trọng. Thực hiện đúng phương châm biết địch biết ta, giữ vững ý chí quyết tâm đánh thắng địch trên cả hai phương diện trí tuệ và tài mưu lược trong tác chiến./.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét