SỰ CHỈ ĐẠO CHIẾN LƯỢC CỦA ĐẢNG
TRONG TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY
XUÂN MẬU THÂN 1968
Nhân Trần
Tổng tiến công và
nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968) là một chiến công oanh liệt và có vị trí to lớn
trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo sáng
suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây là thắng lợi đã tạo ra bước ngoặt
quyết định của cuộc kháng chiến làm lung lay tận gốc ý chí xâm lược của đế quốc
Mỹ, buộc chúng phải bước đầu xuống thang chiến tranh, tạo điều kiện thuận lợi
để quân và dân Việt Nam thực hiện mục tiêu chiến lược “đánh cho Mỹ cút, đánh
cho nguỵ nhào” giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Tổng tiến công
và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968) đã đánh dấu thành công nổi bật về chỉ đạo chiến
lược, thể hiện sáng tạo, độc đáo của Đảng; là bước phát triển mới trong học
thuyết và nghệ thuật quân sự Việt Nam .
Điểm nổi bật và trước hết trong chỉ đạo chiến lược của Đảng
là xác định phương pháp tiến công táo bạo với cách đánh hoàn toàn mới. Tháng 01 năm 1968, Ban Chấp hành
Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 14. Sau khi phân tích, đánh giá âm mưu thủ
đoạn và thất bại của địch trong thời gian qua, khả năng của chúng sắp tới; đánh
giá những mặt mạnh và mặt yếu của ta, Trung ương kết luận: “Tình hình ấy cho
phép ta chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam sang một
thời kỳ mới, thời kỳ tiến công và nổi dậy giành thắng lợi quyết định” và xác
định: “Động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả
hai miền, đưa cuộc chiến tranh cách mạng của ta lên bước phát triển cao nhất,
dùng phương pháp tổng công kích và tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết
định”. Từ phương hướng, nhiệm vụ đó, Đảng đã lựa chọn và quyết định thực hiện phương pháp tiến
công đồng loạt dưới nhiều hình thức (quân sự, chính trị, binh vận) bằng nhiều
lực lượng (chủ lực, đặc công, biệt động, lực lượng tại chỗ) tiến công vào hầu
khắp các đô thị, nơi cơ quan đầu não, nơi chính quyền địch mạnh. Cuộc tiến công
mãnh liệt vào các mục tiêu xung yếu ở Sài Gòn, Gia Định - nơi tập trung cơ quan
đầu não cao nhất của địch đã có ảnh hưởng rất rộng lớn, sâu sắc. Với quy mô to
lớn và tính chất đồng loạt Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968) là
hình thức tiến công chiến lược táo bạo và hoàn toàn mới với hiệu lực chiến đấu
“cộng hưởng” lớn lao chưa từng có, làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ.
Lựa chọn thời cơ đúng để đạt hiệu quả cao, tạo ra bước
ngoặt quyết định của chiến tranh. Đảng đã chọn thời cơ vào năm 1968 là
năm bầu cử Tổng thống Mỹ, năm mà tình hình nước Mỹ rất nhạy cảm về chính trị.
Vào thời điểm này, Mỹ đã trải qua ba năm đưa quân viễn chinh trực tiếp tham
chiến ở Việt Nam. Chúng đã từng mở hai cuộc phản công chiến lược vào mùa khô
1965 - 1966 và 1966 - 1967, nhưng không đạt được kết quả gì đáng kể, trái lại
chúng còn bị quân, dân miền Nam đánh cho thiệt hại nặng nề và thất bại hoàn
toàn trong mục tiêu chiến lược “bẻ gãy xương sống Việt Cộng”. Đồng thời, những
bước leo thang đánh phá miền Bắc hòng ngăn chặn sự chi viện cho miền Nam và uy
hiếp tinh thần kháng chiến của nhân dân ta cũng không xoay chuyển được tình
thế. Những cố gắng của Mỹ vào thời điểm này đã gần đến đỉnh cao. Tính đến tháng
12 năm 1967, Mỹ đã huy động vào cuộc chiến tranh ở Việt Nam nửa triệu quân, với
40% số sư đoàn bộ binh sẵn sàng chiến đấu của nước Mỹ, 30% lực lượng không quân
chiến thuật, hơn 30% lực lượng hải quân. Lực lượng dự trữ của chiến tranh cục
bộ đã dùng hết, thậm chí còn sử dụng cả một phần lực lượng dự trữ dành cho
chiến lược toàn cầu, chi phí cho chiến tranh Việt Nam đến năm 1968 lên tới gần
70 tỉ đô la (gấp 3 lần chiến tranh Triều Tiên). Gánh nặng chiến tranh Việt Nam
đã ảnh hưởng nặng nề đến nền kinh tế và xã hội nước Mỹ, đến chiến lược toàn cầu
và xây dựng quốc phòng của Mỹ. Đế quốc Mỹ đang trong tình thế tiến thoái lưỡng
nan. Về phía ta, đây là lúc lực lượng quân sự, chính trị ở miền Nam đã lớn mạnh
hơn bất kỳ thời kỳ nào trước đó và đang nắm quyền chủ động trên chiến trường.
Thời điểm năm 1968, là hội tụ các điều kiện thuận lợi cả về quân sự và
chính trị cho giành thắng lợi lớn theo ý định của ta. Thời cơ này được ta tạo
ra và nắm bắt đúng lúc, không sớm và cũng không muộn. Nếu đánh sớm quá, ta chưa
làm thất bại hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965 - 1966, 1966 -1967 thì
Mỹ sẽ chưa chịu thua vì còn cả quỹ thời gian lẫn lực lượng để triển khai đầy đủ
chiến lược “chiến tranh cục bộ”. Nếu ta để muộn, cuộc Tổng tiến công diễn ra
sau năm bầu cử Tổng thống Mỹ thì áp lực quân sự khó làm rung chuyển nước Mỹ,
khó làm lung lay ý chí xâm lược của giới cầm quyền. Độc đáo hơn, ta chọn thời
cơ tiến công vào dịp Tết Nguyên đán - đúng đêm Giao thừa, lúc mà địch bộc lộ sơ
hở, chủ quan. Vì thế, khi ta tiến công, địch hoàn toàn bị bất ngờ. Chúng không
chỉ bất ngờ về thời gian mà còn bất ngờ về mục tiêu bị tiến công là các đô thị,
các căn cứ quan trọng và bất ngờ cả về quy mô của cuộc tiến công khi ta không
đánh vào vài chục điểm nhỏ như phán đoán của tình báo địch, mà đánh đồng loạt
trên khắp chiến trường miền Nam.
Lựa chọn đúng hướng tiến công chủ yếu.
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mâu Thân (1968), được
Đảng lựa chọn nhằm vào đô thị, nơi tập trung các cơ quan đầu não Trung ương và
địa phương của chính quyền Sài Gòn. Đó là những mục tiêu tập trung sinh lực cao
cấp của cả Mỹ và chính quyền Sài Gòn, những mục tiêu nhạy cảm nhất trong bộ máy
chiến tranh của chúng ở miền Nam. Cả Mỹ và chính quyền Sài Gòn vẫn cho rằng lực
lượng ta ít kinh nghiệm đánh thành phố và chưa có khả năng đánh vào các trung
tâm đầu não của chúng. Hơn nữa, từ năm 1968, ta chủ động mở Mặt trận Đường số
9, coi đây là một hướng tiến công của quân chủ lực để tiêu hao, tiêu diệt địch,
đồng thời kéo một lực lượng lớn quân Mỹ ra giam chân tại Khe Sanh. Vào đúng lúc
tướng Oétmolen đang cố gắng điều động lực lượng lên “cố giữ bằng được cái chốt
Khe Sanh” thì “Việt Cộng lại mở một loạt trận tiến công táo bạo và bất ngờ
vào hầu hết các căn cứ Mỹ và nguỵ ở Nam Việt Nam”.
Có thể nói, chọn đánh vào đô thị làm hướng tiến công chủ yếu là ta đã chọn
đánh vào nơi hiểm yếu nhất của kẻ thù. Đòn hiểm yếu đó đã phơi bày đầy đủ sự
thất bại về quân sự và sự yếu kém của Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Đây là lần đầu
tiên trong suốt gần 15 năm kháng chiến, chúng ta đã đưa được chiến tranh vào
thành thị, thực hiện một đòn đánh hiểm, đánh đau, đánh vào “trung ương thần
kinh địch”. Rôbơt Kennơđi, Thượng nghị sĩ Mỹ đã phải thốt lên rằng: Tại sao nửa
triệu lính Mỹ có 70 vạn lính Nam Việt Nam cộng tác, có ưu thế hoàn toàn trên
không và ngoài biển, được cung cấp quá đầy đủ và được trang bị những vũ khí
hiện đại nhất lại không có khả năng bảo vệ được thành phố khỏi bị đối phương
tấn công.
Tổ chức, bố trí và điều động lực lượng
thực hiện nghi binh lừa địch để tiến công gây bất ngờ lớn đối với địch. Để
thực hiện tiêu diệt, tiêu hao, vừa nghi binh thu hút, giam chân một phần lực
lượng quân cơ động Mỹ, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động chính Tổng tiến
công và nổi dậy ở thành thị, Bộ Chính trị, Trung ương Đảng đã chỉ đạo lực lượng
vũ trang nổ súng đánh địch ở Khe Sanh. Chính hoạt động này đã thu hút được sự
chú ý của địch ra vùng giới tuyến và giam chân một nửa lực lượng của Mỹ ở miền
Nam gồm 17 trên tổng số 33 lữ đoàn, buộc chúng phải phân tán lực lượng trên
nhiều khu vực chiến trường. Nhận xét về tài nghệ nghi binh của ta, Maicơn
Máclia, tác giả cuốn sách “Việt Nam cuộc chiến tranh mười ngàn ngày” đã viết:
Nhưng rồi các trận đánh trong Tết Mậu Thân làm người ta có cảm tưởng rằng Khe
Sanh có vẻ như là cuộc bao vây bỏ đấy mà thôi. Nếu vậy thì Bắc Việt Nam là bậc
thầy trong việc nghi binh. Sách “Việt
Nam - Giờ quyết định” của Hãng thông tấn Pháp AFP tiết lộ: Những sai lầm nặng nhất của các tổ chức tình
báo - không còn nghi ngờ chút nào - là không tin rằng Việt Cộng có thể huy động
được số người đông đảo và ném ra những cuộc tiến công hết sức ác liệt với một
sự hợp đồng chặt chẽ và một cường độ lớn như vậy.
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968), dù chưa đạt được mục
tiêu chiến lược “giành thắng lợi quyết định”, chưa đạt được theo khả năng thứ
nhất: Ta thắng lớn, Mỹ buộc phải chịu thua, phải thương lượng với ta để kết
thúc chiến tranh; ta còn có những sai lầm, khuyết điểm. Nhưng đây là cuộc động
binh lớn nhất trong lịch sử chống Mỹ, cứu nước từ năm 1954 đến lúc này. Lần đầu
tiên ta đưa chiến tranh tới hang ổ của kẻ thù, làm đảo lộn kế hoạch chiến tranh
và thế bố trí chiến lược của Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Do thất bại nặng nề
này, Tổng thống L.Giônxơn phải tuyên bố: Đơn phương chấm dứt không điều
kiện việc đánh phá bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc từ vĩ tuyến 20
trở ra; loại bỏ mọi cuộc leo thang lớn; huỷ bỏ Kế hoạch chiến lược “tìm và
diệt” quay sang thực hiện “quét và giữ”, đẩy tới sự thất bại hoàn toàn của
Chiến lược “chiến tranh cục bộ”. Đánh giá về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy
Xuân Mậu Thân (1968), đồng chí Lê Duẩn khẳng định: “Ta đã thắng rất to, địch đã
thua rất nặng nề. Rõ ràng trận này đã mở ra một bước ngoặt chiến lược đánh dấu
thời kỳ Mỹ phải xuống thang chiến tranh do thất bại trong “chiến tranh cục bộ”.
Thắng lợi to lớn của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Xuân Mậu Thân
(1968) chứng tỏ khả năng và tài nghệ chỉ đạo chiến lược, chỉ đạo chiến tranh
tài tình, sắc bén, táo bạo của Đảng ta./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét