ĐƯỜNG LỐI CHỈ ĐẠO KHỞI NGHĨA VŨ TRANG TRONG
CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 CỦA ĐẢNG LÀ
ĐÚNG ĐẮN, SÁNG TẠO .
Các tầng lớp nhân dân, người lao động Hà Nội cùng với lực lượng vũ trang nhân dân tham gia mít-tinh phát động cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám được tổ chức tại Nhà hát Lớn Hà Nội, ngày 19-8-1945. Ảnh: Tư liệu
Đầu
năm 1945, tình hình thế giới và Đông Dương đã có những điều kiện mới, nhân tố
mới cho phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam phát triển thành cao trào rộng
lớn; chiến tranh thế giới thứ II bước vào giai đoạn kết thúc, phát xít Đức bị
Hồng quân Liên Xô đánh tan, buộc phải ký đầu hàng vô điều kiện quân Đồng minh
(9-5-1945). Ở Đông Dương Phát xít Nhật mặc dù đã liên tiếp thất bại ở nhiều
nơi, nhưng biết được âm mưu của Pháp, đêm 9-3-1945 Nhật đảo chính Pháp độc
chiếm Đông Dương. Trước sự biến đổi nhanh chóng của tình hình thế giới, trong
nước, đêm 9-3-1945 Thường vụ Trung ương Đảng đã họp ở Đình Bảng (Từ Sơn-Bắc
Ninh) do đồng chí Trường Chinh chủ trì, ra Bản chỉ thị “Nhật-Pháp bắn nhau và
hành động của chúng ta”. Ngày 12-3-1945 Ban thường vụ Trung ương Đảng họp, phân
tích đánh giá: (1) Hai thế lực phát xít, thực dân đánh nhau một mất, một còn;
(2) Chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương tan rã; (3) Chính quyền Nhật mới
lên, nhưng chưa ổn định; (4) Các tầng lớp trung gian đang hoang mang; (5) Quần
chúng cách mạng muốn hành động. Trung ương Đảng nhận định: Thời điểm này là
thời kỳ phát triển hoà bình cách mạng đã qua, nhưng toàn dân khởi nghĩa chưa
tới, thời cơ cục bộ xuất hiện, nhưng tình thế trực tiếp cách mạng trên phạm vi
cả nước chưa chín mùi. Trước tình hình đó, Thường vụ chỉ đạo khởi nghĩa từng
phần ở những địa phương có đủ điều kiện. Vì vậy, sau ngày Nhật đảo chính Pháp
(9-3-1945) khởi nghĩa từng phần nổ ra và giành thắng lợi ở một số địa phương,
từng bước lan nhanh khắp các vùng nông thôn 6 tỉnh Việt Bắc: Từ căn cứ địa Việt
Bắc lan nhanh đến hàng loạt chiến khu ở nhiều vùng rừng núi và nông thôn thuộc
Bắc Bộ, Trung Bộ: Cao bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái
Nguyên, Hoà Bình, Đông Triều....Các hoạt động trong thời kỳ này là cao trào
kháng Nhật, bức hàng các đồn bốt, xoá bỏ chính quyền địch ở thôn xã, lập các Uỷ
ban Việt Minh, tổ chức nhân dân phá kho thóc cứu đói...Nhiều đội tự vệ cứu quốc
chặn đánh các cuộc càn quét của quân Nhật vào khu căn cứ, bảo vệ vùng giải
phóng, thu hẹp phạm vi kiểm soát của quân Nhật, tạo điều kiện thuận lợi cho
Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên phạm vi cả nước thắng lợi.
Trong
chỉ đạo và thực hành khởi nghĩa từng phần, Đảng ta đã thành công về xây dựng
lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang và kết hợp hai lực lượng đó trong cuộc
đấu tranh, chuẩn bị đón thời cơ khởi nghĩa, xây dựng, phát triển căn cứ địa,
chiến khu cách mạng trên phạm vi cả nước làm chỗ đứng chân và bàn đạp cho lực
lượng vũ trang hoạt động, chuẩn bị người, vũ khí cho Tổng khởi nghĩa, tạo lập
thế và lực, phát động cao trào kháng Nhật, tập dượt cho quần chúng sẵn sàng
bước vào hành động cách mạng. Đây là thời kỳ Đàng từng bước xây dựng những nhân
tố bảo đảm cho thành công của Tổng khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền.
Ngày
12-8-1945 được tin Nhật gửi công hàm cho các nước Đồng minh đề nghị mở cuộc đàm
phán ngừng bắn, ngày 13-8-1945 Đảng triệu tập Hội nghị Trung ương ra Nghị
quyết: “Phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong toàn quốc” ra bản
“Quân lệnh số 1”, lập “Uỷ ban khởi nghĩa toàn quốc”, cử cán bộ chủ chốt đi các
địa phương lãnh đạo Tổng khởi nghĩa. Tinh thần chỉ đạo của Trung ương Đảng:
Phải giành cho được chính quyền bằng cách đập tan chính phủ thân Nhật Trần
Trọng Kim, lập ra chính quyền cách mạng trước khi Đồng minh kéo vào.
Hội
nghị chỉ rõ nguyên tắc khởi nghĩa: “Tập trung, thống nhất, kịp thời”. Phương
châm tác chiến là “đánh chiếm những nơi chắc thắng không kể thành phố hay thôn
quê”, thành lập Uỷ ban nhân dân ở nơi ta đã làm chủ. Điều kiện đánh: Nơi nào
cần và chắc thắng thì đánh. Nguyên tắc đánh: Quân sự và chính trị phối hợp.
Chiến thuật đánh: Đánh địch tiến công, phòng ngự và thoái thủ. Hành động của
lực lượng vũ trang: “đánh cho quân giặc những đòn chí tử, tiêu diệt lực lượng
của chúng, chộp lấy những căn cứ chính (cả đô thị) trước khi quân đồng minh
vào, tập trung lực lượng vào những chỗ cần thiết để đánh, làm tan rã tinh thần
quân địch và dụ chúng hàng trước khi đánh”.
Về sử dụng lực lượng, ta sử dụng đồng thời cả tiến công của lực lượng quân sự
với nổi dậy của lực lượng quần chúng dưới sự chỉ huy của Uỷ ban khởi nghĩa
toàn quốc và từng địa phương, trong đó sự nổi dậy của lực lượng chính trị
đóng vai trò quyết định, tiến hành mít tinh, biểu tình, bao vây các công sở,
gây sức ép, kêu gọi địch đầu hàng, tuyên truyền thanh thế của cách mạng, thị uy
biểu dương lực lượng. Lực lượng quân sự làm hậu thuẫn cho nổi dậy của quần
chúng, sử dụng khi cần thiết để diệt ác, trừng trị kẻ ngoan cố. Địa bàn khởi
nghĩa, diễn ra cả nông thôn và thành thị với tinh thần đồng loạt nổi dậy.
Khi
nhận được “Quân lệnh số 1”, hầu như cả nước đều nhất loạt khởi nghĩa (ở miền
Bắc nhất loạt cả thành thị và nông thôn, miền Nam từ thành thị lan về nông
thôn), làm cho quân Nhật trở tay không kịp, không còn khả năng giải toả, ứng
cứu chi viện cho nhau. Về mục tiêu, ta chọn các cơ quan đầu não, công sở chính
quyền địch làm mục tiêu tiến công chủ yếu: Toà Khâm Sai, Phủ Toàn Quyền và
những cơ quan đầu não ở các tỉnh thành phố. Thực hiện sự chỉ đạo của Trung ương
Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ ngày 14 đến 18-8-1945 các tỉnh Cao Bằng, Bắc
Kạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái; các tỉnh ở đồng bằng sông Hồng; các
tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa Thiên-Huế, Khánh Hòa… lần lượt nổi dậy
giành chính quyền. Ngày 19-8-1945 Hà Nội đỏ rực màu cờ, hàng chục vạn quần
chúng cách mạng ở nội và ngoại thành mang theo gậy dao, súng, mã tấu... tiến về
quảng trường Nhà hát thành phố dự cuộc mít tinh do Việt Minh tổ chức. Sau loạt
súng chào cờ và bài Tiến quân ca vang lên, đại biểu Uỷ ban quân sự cách mạng
đọc lời hiệu triệu khởi nghĩa của Việt Minh, cuộc mít tinh phát triển nhanh
chóng chuyển thành cuộc biểu tình tuần hành vũ trang cách mạng, tiến về các ngả
đường, chiếm các cơ quan của chính quyền bù nhìn: Phủ Khâm sai, Toà Thị chính,
Sở cảnh sát, Trại bảo an binh..., giành chính quyền về tay nhân dân. Cùng ngày
các tỉnh Yên Bái, Phúc Yên, Thái Bình, Thanh Hoá, Khánh Hoà, giành được chính
quyền.
Ngày
23-8-1945, ở Huế quần chúng các huyện ngoại thành phối hợp với công nhân, thanh
niên, sinh viên, học sinh và các tầng lớp lao động khác trong nội thành, tiến
hành cuộc biểu dương lực lượng, lần lượt chiếm các công sở của địch, giành
chính quyền về tay nhân dân; cùng ngày các tỉnh Bắc Kạn, Hoà Bình, Hà Đông, Hải
Phòng, Quảng Bình, Quảng Trị, Gia Lai, Bình Thuận, Lâm Viên, Tân An, Bạc Liêu,
giành được chinh quyền.
Sáng
25-8-1945 các đơn vị “Xung phong công đoàn”, “Thanh niên tiền phong”, công
nhân, nông dân được trang bị giáo mác, gậy tầm vông từ các tỉnh Gia Định, Biên
Hòa, Thủ Dầu Một, Mỹ Tho kéo về Sài Gòn nhanh chóng chiếm Sở Mật thám, Sở Cảnh sát,
Nhà ga, Bưu điện, Nhà máy điện... giành toàn bộ chính quyền về tay nhân
dân. Đồng thời với khởi nghĩa ở Sài Gòn, nhân dân các tỉnh Nam Bộ: Chợ
Lớn, Gia Định, Sóc Trăng, Long Xuyên, Vĩnh Long, Bà Rịa, Thủ Dầu Một, Trà Vinh,
Tây Ninh, Bến Tre, Sa Đéc khởi nghĩa giành thắng lợi. Ngày 26-8-1945, nhân dân
Sơn La, Hòn Gai, Cần Thơ, khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi. Ngày
27-8-1945 tỉnh Rạch Giá giành được chính quyền. Ngày 28-8-1945 tỉnh cuối
cùng (Hà Tiên) giành chính quyền. Ngày 30-8-1945 Bảo Đại thoái vị trao ấn kiếm
cho chỉnh phủ lâm thời. Ngày 02-9-1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản tuyên ngôn
khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Thắng lợi trong chỉ đạo khởi nghĩa
vũ trang Cách mạng tháng Tám năm 1945 của Đảng đã giải quyết thành công nhiều vấn
đề về nghệ thuật quân sự.
Thứ
nhất, nghệ thuật chớp thời cơ phát động Tổng khởi nghĩa vào thời điểm Nhật đầu
hàng đồng minh (12-8-1945) là phù hợp. Bởi vì, vào thời điểm này phong trào
cách mạng ta đã nên tới cao trào, quần chúng cách mạng, mặt trận Việt Minh đã
sẵn sàng hành động với một khí thế chưa từng có, lực lượng cách mạng đã lôi kéo
được các tầng lớp trung gian, lừng chừng ngả hẳn về phía cách mạng. Đảng Cộng
sản Đông Dương đã có kế hoạch đầy đủ, cử cán bộ chủ chốt đi các địa phương lãnh
đạo Tổng khởi nghĩa. Đó là lúc quân Anh chưa vào miền Nam, quân Tưởng chưa vào
miền Bắc để giải giáp quân Nhật; quân Nhật bại trận mất tinh thần ngồi chờ quân
Đồng minh đến tước vũ khí, ngụy quyền tay sai bỏ trốn hoặc đầu hàng chính quyền
cách mạng, nhờ thế sức mạnh của toàn dân ta được nhân lên gấp bội, tiến tới
Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên cả nước một cách nhanh, gọn, không đổ
máu và thành công triệt để.
Thứ
hai, nghệ thuật sử dụng phương thức khởi nghĩa quân sự chính trị phối hợp, sử
dụng đồng thời cả đòn tiến công của lực lượng vũ trang cách mạng và sự nổi dậy
của lực lượng chính trị quần chúng. Trong đó lực lượng chính trị đóng vai trò
quyết định, tiến hành mít tinh, biểu tình, thị uy, bao vây các công sở gây sức
ép, kêu gọi địch đầu hàng, tuyên truyền thanh thế cách mạng, thị uy biểu dương
lực lượng; lực lượng vũ trang làm hậu thuẫn cho lực lượng chính trị nổi dậy và
giải quyết các tình huống đột xuất: Diệt ác ôn trừ gian, bảo vệ các cuộc mít
tinh biểu tình của nhân dân.
Thứ ba, nghệ thuật chọn địa bàn Tổng khởi nghĩa cả nông thôn
và thành thị với tinh thần đồng loạt nổi dậy. Khi nhận được “Quân lệnh số 1”, cả nước đều nhất loạt khởi nghĩa làm cho quân Nhật không kịp trở tay,
không còn khả năng giải toả, ứng cứu chi viện cho nhau.
Thứ tư, nghệ thuật lựa chọn mục tiêu khởi nghĩa là các cơ
quan đầu não, các công sở chính quyền địch làm mục tiêu tiến công chủ yếu như:
Toà Khâm Sai, Phủ Toàn Quyền và những cơ quan đầu não ở các tỉnh, thành phố;
việc lựa chọn mục tiêu chính xác, góp phần thúc đẩy Tổng khởi nghĩa giành thắng
lợi nhanh chóng trên cả nước. Cách mạng tháng 8-1945 Đảng đã giải quyết thành
công những vấn đề về lý luận và thực tiễn của nghệ thuật khởi nghĩa vũ trang
cách mạng: Vấn đề tạo và nắm thời cơ, sử dụng dựng lực lượng, xác định địa bàn
và phương thức khởi nghĩa, lựa chọn mục tiêu tiến công… để lại nhiều bài học
kinh nghiệm quí, còn nguyên giá trị, là tài sản vô giá trong kho tàng nghệ
thuật chỉ đạo khởi nghĩa vũ trang cách mạng của Đảng.
Trong
giai đoạn cách mạng hiện nay, cả nước đang đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá -
hiện đại hoá, quyết tâm thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược của cách
mạng: Xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vận dụng
nghệ thuật chỉ đạo khởi nghĩa vũ trang trong cách mạng tháng Tám, chúng ta
tranh thủ những điều kiện và thời cơ thuận lợi của Quốc tế và trong nước, phát
huy truyền thống yêu nước, ý trí tự lực, tự cường, sức mạnh của khối đại đoàn
kết toàn dân tộc, chủ động tạo ra thời cơ thuận lợi, vượt qua thách thức để
phát triển đất nước vững mạnh về mọi mặt, thực hiện thắng lợi mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Trong xu thế hội nhập khu
vực và thế giới có những thuận lợi, nhưng có nhiều khó khăn thách thức đặt ra:
Nguy cơ khủng bố, chiến tranh thông tin,…các thế lực thù địch, phần tử cơ hội
chính trị trong và ngoài nước đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”,
thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, thực hiện “phi chính trị hóa” Quân đội ngày càng quyết liệt, phức tạp hơn. Cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền trên
biển của Nhân dân ta sẽ còn lâu dài, khó khăn đã và đang tác động không tốt đến
quá trình phát triển đất nước. Do đó, Đảng ta tiếp tục chủ động, nắm bắt những
cơ hội lớn để phát triển đất nước nhanh, vững chắc, tạo thế và lực mới, kiên
quyết đẩy lùi những thách thức và nguy cơ.


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét