MỐI QUAN HỆ GIỮA DÂN TỘC VÀ DÂN CHỦ
TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Thứ nhất, quan hệ giữa dân tộc và chủ nghĩa xã
hội
Chủ tịch Hồ Chí Minh đến với Quốc tế cộng sản,
đến với chủ nghĩa Mác - Lênin là vì Quốc tế cộng sản ủng hộ các nước thuộc địa:
“Vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức liên hiệp lại!”. Người tìm thấy
ở đó cẩm nang để giải phóng dân tộc mình. Giải phóng dân tộc là mục tiêu. Cẩm
nang không phải là mục đích tự thân. Cẩm nang là phương tiện. Đầu tiên là thế!
Chọn chủ nghĩa Mác - Lênin là chọn phương tiện để giải phóng dân tộc. Sau đó,
sức hấp dẫn của chủ nghĩa Mác - Lênin, của mô hình xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô
và Đông Âu, đã dẫn đến việc Đảng Cộng sản Việt Nam lựa chọn mô hình chủ nghĩa
xã hội.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “nếu nước độc lập mà
dân không được hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”.
Người cho rằng, độc lập là “không có gì quý hơn” nhưng độc lập cũng chẳng có
nghĩa lý gì nếu dân không được hưởng hạnh phúc! Thế nên, độc lập của dân tộc,
hạnh phúc của nhân dân là mục tiêu tối thượng.
Thứ hai, quan hệ giữa dân với Đảng
Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Đảng
ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo
đức cách mạng, thật sự cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng
ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật
trung thành của nhân dân”. Những lời trên đây đã nêu rõ Đảng là của nhân
dân. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam nêu: Đảng “đại biểu trung thành lợi ích của
giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc”.
Nhân dân là những ai? Bác định nghĩa: “Nhân
dân là bốn giai cấp công, nông, tiểu tư sản, tư sản dân tộc và những phần tử
khác yêu nước”. Đảng của Hồ Chí Minh là đảng nào? Bác trả lời: “Đảng của
tôi là Đảng Việt Nam”. Năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói vậy không phải chỉ là
sách lược mà lời nói đó thấm đượm tinh thần Đảng là của nhân dân Việt Nam, của
toàn thể dân tộc Việt Nam. Đảng không có mục đích tự thân. Ngay khi chính quyền
còn trong trứng nước, Người đã nhắc nhở, ngăn ngừa: “Các cơ quan của Chính
phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh
vác việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân...”. “Việc gì lợi
cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì có hại cho dân, ta phải hết sức tránh”.
Thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) của
Đảng chính là thực hiện di huấn của Người, đặt đúng trở lại mối quan hệ giữa
dân với Đảng trong tình hình hiện nay của đất nước.
Thứ ba, thể chế hóa quyền lực của dân và quan hệ giữa dân
với chính quyền
Một ngày sau khi nhắc lại “tạo hóa cho họ những
quyền không ai có thể xâm phạm được” của người dân, ngày 03-9-1945, Chủ tịch Hồ
Chí Minh nghĩ ngay đến việc phải thể chế hóa những quyền lực ấy. Trong phiên
họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên một trong
sáu nhiệm vụ cấp bách của chính quyền cách mạng: “Chúng ta phải có một bản
Hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng tốt cuộc Tổng
tuyển cử bầu Quốc hội với chế độ phổ thông đầu phiếu”. Ngày 06-01-1946,
toàn thể nhân dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên đã tham gia cuộc Tổng tuyển cử tự
do lựa chọn những đại diện của mình vào Quốc hội của Nhà nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa.
Gần một năm sau, ngày 09-11-1946, tại Kỳ họp thứ
2, Quốc hội khóa I đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử nước ta.
Điều thứ 1 Hiến pháp tuyên bố: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa.
Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam”.
Với việc thông qua bản Hiến pháp năm 1946, Việt
Nam chính thức xác nhận việc xây dựng nhà nước pháp quyền trong lịch sử. Quyền
lực của nhà nước về bản chất là quyền lực của nhân dân. Quyền lực của dân là
nền tảng của quyền lực nhà nước. Nhà nước thực hiện những chức năng do dân ủy
quyền. “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”, tư
tưởng ấy, tinh thần của bản Hiến pháp 1946 là cái bất biến trong tất cả các bản
sửa đổi Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992 và đặc biệt được nhấn mạnh trong bản
Hiến pháp năm 2013./.
BÀN
LUẬN
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét