NỖ LỰC VÌ MỤC TIÊU “NAM NỮ BÌNH QUYỀN”
Hoằng Tháo
Ý kiến cho
rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam không quan tâm đến sự tiến bộ của phụ nữ là hoàn
toàn không có cơ sở. Trong suốt hơn 90 năm từ khi thành lập đến nay, Đảng Cộng
sản Việt Nam luôn quan tâm lãnh đạo công tác phụ nữ và thực hiện mục tiêu bình
đẳng giới, được thể hiện xuyên suốt trong các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về
công tác quần chúng, công tác vận động phụ nữ, công tác cán bộ nữ.
Sinh thời,
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Nói phụ nữ là nói phân nửa xã hội. Nếu
không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người. Nếu không giải
phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa”. Vì vậy, sự nghiệp giải
phóng phụ nữ không chỉ là công việc riêng của phụ nữ mà gắn liền với sự nghiệp
giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.
Chỉ tính
riêng trong 15 năm trở lại đây, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí
thư Trung ương Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị về công tác quần
chúng, công tác vận động phụ nữ, công tác cán bộ nữ, như Chỉ thị số 37-CT/TW,
ngày 16-5-1994, của Ban Bí thư Trung ương Đảng “về một số vấn đề công tác cán
bộ nữ trong tình hình mới”; Nghị quyết số 11-NQ/TW, ngày 27-4-2007, của Bộ
Chính trị “về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước”. Đặc biệt, trong Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 30-5-2019 của Bộ Chính trị
"về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XIII của Đảng" đã nhấn mạnh về cơ cấu cán bộ nữ: “Phấn đấu đạt tỷ lệ cấp
ủy viên nữ từ 15% trở lên và có cán bộ nữ trong ban thường vụ... Cấp ủy các
cấp, nhất là người đứng đầu phải chủ động và có trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo
việc rà soát, đánh giá để đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sắp xếp cán bộ nữ, cán bộ
trẻ, cán bộ người dân tộc thiểu số vào các chức danh có cơ cấu tham gia cấp ủy
khóa mới; đồng thời, có giải pháp hiệu quả chuẩn bị nguồn cán bộ cả trước mắt
và lâu dài”.
Từ các chủ
trương của Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách cụ thể nhằm tạo điều
kiện thuận lợi để phụ nữ phát triển và thúc đẩy bình đẳng giới. Sự nghiệp giải
phóng phụ nữ để “nam nữ bình quyền” được khẳng định nhất quán từ Hiến pháp đầu
tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa năm 1946 đến Hiến pháp năm 2013, quy
định rõ: “Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt. Nhà nước có chính sách bảo đảm
quyền và cơ hội bình đẳng giới”, “Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để
phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội”, “Nghiêm
cấm phân biệt đối xử về giới”.
Việt Nam
cũng đã ký kết tham gia Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối
xử chống lại phụ nữ (Công ước CEDAW) và đã được từng bước luật hóa trong văn
bản pháp luật và các chính sách có liên quan đến bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp
của phụ nữ, như: Luật Bình đẳng giới; Luật Phòng, chống bạo lực gia đình; Luật
Hôn nhân và gia đình; Bộ luật Hình sự; Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp
luật,...
Ông Jesper
Morch, Trưởng đại diện UNICEF tại Việt Nam đã đánh giá: “Việt Nam là nước dẫn
đầu khu vực châu Á-Thái Bình Dương về các chỉ số về bình đẳng giới qua việc
cung cấp dịch vụ y tế và giáo dục tới các trẻ em gái, trẻ em trai, phụ nữ và
nam giới. Sự chênh lệnh về tỷ lệ nhập học giữa các em nữ và các em nam là rất
thấp. Tỷ lệ mù chữ của nữ giới so với nam giới ngày càng giảm”.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét