Thứ Tư, 25 tháng 9, 2019


LỊCH SỬ VÀ Ý NGHĨA NGÀY QUỐC KHÁNH 2/9
                                                                                                                    Mặt Trời
Quốc khánh 2/9 đã trở thành một mốc son hào hùng của dân tộc Việt Nam trong suốt chặng đường gần tám mươi năm qua. Chúng ta cùng nhìn lại lịch sử và ý nghĩa của ngày lễ này.
Cách mạng tháng Tám thành công, Trung ương Đảng cử đồng chí Lê Đức Thọ đón Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chiến khu Việt Bắc về Hà Nội và nghỉ tại thôn Phú Gia, xã Phú Thượng, huyện Từ Liêm (nay là phường Phú Thượng, quận Tây Hồ). Sau đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh về ở căn gác số 48, Hàng Ngang rồi hàng ngày đến làm việc tại nhà số 12 phố Ngô Quyền - trụ sở của Chính phủ lâm thời. Trong các ngày 28 và 29 tháng 8, Chủ tịch Hồ Chí Minh dành phần lớn thời gian viết ra bản Tuyên ngôn độc lập.
Sau ngày 19 tháng 8, Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí của Người bàn bạc việc chọn ngày ra mắt quốc dân để đọc Tuyên ngôn độc lập. Có nhiều ý kiến đề nghị chọn ngày gần sau đó là ngày 25 hoặc 28 tháng 8. Nhưng Giám mục Hoàng Đức Oanh dẫn lời kể của Giám mục Lê Đắc Trọng, một nhân chứng trong thời điểm đó rằng đồng chí Vũ Đình Tụng, bác sĩ riêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và cũng là một giáo dân công giáo đã đề xuất lấy ngày 2 tháng 9 năm 1945. Chủ tịch Hồ Chí Minh hỏi vì sao thì bác sĩ Tụng giải thích nó rơi vào ngày chủ nhật nên mọi người được nghỉ việc; và ngày 2 tháng 9 cũng là ngày Chúa kính các vị tử đạo Việt Nam, là lễ trọng nên giáo dân đều đi dự lễ; thời đó chỉ có phía công giáo mới có các đoàn thể với áo quần đồng phục, đội ngũ chỉnh tề nên dễ vận động đồng bào công giáo tham gia mít tinh sau khi tan lễ. Sau đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh cử người liên lạc với bên phía tòa giám mục Hà Nội. Đến ngày 22 tháng 8, Người đến thăm nhà thờ lớn Hà Nội. Tại đây, khi thấy giáo dân đang chuẩn bị cờ, hoa trang trí nhà thờ, chuẩn bị mừng lễ các vị tử đạo Việt Nam vào ngày 2 tháng 9 sắp tới, Chủ tịch Hồ Chí Minh suy nghĩ một lúc rồi nói: “Tôi sẽ làm cho ngày đó thêm ý nghĩa nữa”. Có lẽ ý tưởng này đã đưa đến việc Người chọn ngày 2 tháng 9 là ngày tuyên bố độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Và như vậy, cách đây 74 năm, trong mùa thu lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Ngay từ sáng sớm ngày mùng 2 tháng 9 năm 1945, hàng chục vạn người với hàng ngũ chỉnh tề, cờ hoa khoe sắc, áo quần tươi màu đỏ dồn về phía quảng trường Ba Đình. Lễ đài bằng gỗ đơn sơ được dựng lên giữa quảng trường; các đội tự vệ vũ trang cùng những đơn vị Quân Giải phóng đội mũ ca lô, quân phục nghiêm trang, hàng ngũ thẳng tắp đứng trước lễ đài; hơn 50 vạn người đại diện cho mọi tầng lớp nhân dân, nét mặt hân hoan phấn khởi chờ đón giờ khai sinh của chế độ mới - nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Cùng giờ này, nhiều cuộc mít tinh lớn được tổ chức tại Huế, Sài Gòn và nhiều thành phố khác. Muôn triệu trái tim hồi hộp hướng về Hà Nội, đợi chờ. Đúng 14 giờ, Hồ Chủ tịch và các vị trong Chính phủ lâm thời ra lễ đài. Bản nhạc Tiến quân ca hùng tráng vang lên, mọi ánh mắt đều hướng về lá cờ đỏ sao vàng đang từ từ kéo lên. Hàng chục vạn bàn tay nắm chặt giơ lên ngang tai, biểu thị lòng quyết tâm và ý chí sắt đá, kính chào lá cờ vinh quang của Tổ quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh giản dị trong bộ quần áo ka ki và đôi dép cao su tiến ra trước máy phóng thanh. Thay mặt Chính phủ lâm thời - tức là ủy ban Dân tộc giải phóng Trung ương - Người đọc Bản Tuyên ngôn độc lập. Lời nói của Người trang trọng đầm ấm vang trên quảng trường Ba Đình lịch sử. Người khẳng định: “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn tám mươi năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe đồng minh chống phát xít Nhật mấy năm nay, dân tộc có phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!”. Người trịnh trọng tuyên bố trước toàn thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và thật sự đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”. Đọc được nửa chừng, Người dừng lại và hỏi: “Tôi nói đồng bào nghe rõ không?”. Hơn 50 vạn người cùng đồng thanh đáp lớn: “Có!”.
Tuyên ngôn Độc lập là văn kiện lịch sử có ý nghĩa vô cùng trọng đại đối với vận mệnh của dân tộc. Nó tiếp nối truyền thống anh hùng bất khuất của cha ông thuở trước. Thời thế đã đổi thay, song chí khí hào hùng của nhân dân ta trong thơ thần của Lý Thường Kiệt “Nam quốc sơn hà Nam đế cư; tuyệt nhiên định phận tại thiên thư”, trong “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi vẫn thắm đượm trong từng lời, từng chữ của Tuyên ngôn. Tuyên ngôn Độc lập là bản hùng ca viết tiếp những trang sử huy hoàng của ngàn năm về trước, đã đánh dấu thắng lợi của một thế kỷ ngoan cường chống thực dân và phong kiến và mở ra một kỷ nguyên mới trên đất nước ta. Tuyên ngôn độc lập chẳng những đã khai sinh một nhà nước - nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nhà nước độc lập đầu tiên trong hệ thống thuộc địa thế giới, mà còn báo hiệu sự thành lập một chế độ xã hội mới - chính quyền công nông đầu tiên ở khu vực Đông Nam châu Á.
Từ đây với tư cách người chủ thực sự của đất nước, nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã kiên cường đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc thực dân kiểu mới. Ba mươi năm sau ngày Tuyên ngôn độc lập, năm 1975, Đảng ta, quân dân ta đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử vẻ vang giải phóng hoàn toàn miền Nam, kết thúc thắng lợi sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến hành thống nhất nước nhà, thu non sông về một mối để đi lên chủ nghĩa xã hội. Tổ quốc ta được độc lập, nhân dân ta đời đời được tự do, tinh thần bất diệt của Tuyên ngôn độc lập mãi mãi khắc sâu vào trái tim và khối óc của mỗi người dân Việt Nam. Với ý nghĩa và tầm vóc lớn lao đó, ngày 2 tháng 9 hàng năm trở thành ngày hội lớn của dân tộc, ngày Quốc khánh của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013, chương 1, điều 13, mục 4 khẳng định: “Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là ngày Tuyên ngôn độc lập 2 tháng 9 năm 1945”.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét