KHẲNG
ĐỊNH ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÀ HỢP LÒNG DÂN
Thực tiễn cách
mạng Việt Nam 87 năm qua đã chứng minh rằng, sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt
của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng nước ta;
đồng thời chính trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta được tôi luyện, thử
thách và không ngừng trưởng thành để ngày càng xứng đáng với vai trò và sứ mệnh
lãnh đạo cách mạng, xứng đáng với sự tin cậy của nhân dân. Thực tiễn đã chứng
minh, ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào ngoài Đảng Cộng sản Việt
Nam, có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước
vượt qua mọi khó khăn, thử thách.
Thứ nhất, nhân dân Việt
Nam đã lựa chọn Đảng Cộng sản Việt Nam là người lãnh đạo duy
nhấtđối với Nhà nước và xã hội.
Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, đã có
thời điểm xuất hiện đa nguyên, đa đảng, song lịch sử cũng đã phủ nhận đa
nguyên, đa đảng, xác định vị trí độc tôn lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Bởi,
trước năm 1930, ở Việt Nam đã tồn tại nhiều đảng phái chính trị, ngoài Đảng
Cộng sản Đông Dương (Đảng Cộng sản Việt Nam ngày nay), còn có một số tổ chức,
đảng phái chính trị khác theo đường lối cách mạng tư sản, song thực tiễn lịch
sử đã cho thấy chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng duy nhất lãnh đạo nhân dân
Việt Nam tiến hành thắng lợi cách mạng tháng Tám năm 1945.
Sau Chiến thắng
Điện Biên Phủ năm 1954, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo cả nước tiến hành
cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở
miền Nam, thống nhất nước nhà. Trong giai đoạn này, Đảng Cộng sản Việt Nam đã
nhận được sự đồng tình, ủng hộ, hưởng ứng của đông đảo mọi tầng lớp nhân dân.
Ngược lại, ở miền Nam, với sự tiếp sức của đế quốc Mỹ xâm lược, các thế lực
phản động, tay sai đã lập nên một chính thể đa nguyên có sự tham gia của nhiều
đảng phái chính trị, nhưng mục đích của các đảng phái đó không vì quyền lợi của
nhân dân, đi ngược lại lợi ích của dân tộc. Do vậy, nên nhân dân Việt Nam đã
phản đối, đứng lên lật đổ thể chế chính trị đó.
Chiến thắng
lịch sử 30 thắng 4 năm 1975, miền Nam được giải phóng, đất nước Việt Nam thống
nhất đi lên chủ nghĩa xã hội, và cho đến nay, nền chính trị nhất nguyên được
thiết lập, một lần nữa nhân dân Việt Nam tiếp tục lựa chọn Đảng Cộng sản Việt
Nam là người lãnh đạo, người đại đại diện duy nhất cho mình.
Thứ hai, Đảng Cộng sản Việt
Nam có đủ phẩm chất, năng lực lãnh đạo công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước,
bảo vệ Tổ quốc.
Qua hơn 30 năm đổi mới, dưới sự lãnh
đạo Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước ta đạt được những thành tựu to lớn. Đất
nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội và tình trạng nước nghèo kém phát
triển, trở thành nước đang phát triển, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
và hội nhập quốc tế. Kinh tế tăng trưởng khá, kinh tế vĩ mô từng bước được ổn
định, lạm phát được kiềm chế.
Đời sống nhân
dân được nâng cao; đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo, khuyến khích mọi người làm giàu
chính đáng. Bảo đảm tăng trưởng kinh tế gắn với thực hiện tiến bộ và công bằng
xã hội. Các thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển
lâu dài, hợp tác, cạnh trạnh lành mạnh. Chính trị – xã hội ổn định, quốc phòng
– an ninh được tăng cường. Văn hóa xã hội có bước phát triển, an sinh xã hội
được quan tâm nhiều hơn và cơ bản được bảo đảm. Dân chủ xã hội chủ nghĩa được
phát huy và ngày càng mở rộng. Đại đoàn kết dân tộc được củng cố và tăng cường.
Nhà nước pháp quyền và cả hệ thống chính trị được đẩy mạnh. Sức mạnh mọi mặt
của đất nước được nâng lên. Quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều
sâu, có hiệu quả. Vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao
Đảng ta là “con
nòi” của dân tộc, ra đời, trưởng thành và lớn lên trong phong trào cách mạng
của nhân dân. Nhân dân ta tự nguyện đi theo Đảng, tự nguyện tôn vinh sự lãnh
đạo, dìu dắt của Đảng, nhưng để Đảng không đi “chệch hướng” thì nhất thiết Đảng
phải chịu sự giám sát của nhân dân. Nhân dân với tư cách “là chủ” và “làm chủ”
của xã hội và đất nước, do đó việc cần kíp lúc này là phải thực sự coi trọng,
phát huy cao nhất vai trò, sức mạnh của nhân dân trong việc phòng chống suy
thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”
trong cán bộ, đảng viên./.
Công Bằng
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét